- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Ảnh cùng đồng phạm - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2026/HS-ST Ngày 16 - 4- 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Khắc Tuyn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bẩy.
2. Ông Trần Hữu Trung.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Tố Tâm - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Tống Duy Vương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/4/2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23 /2026/TLST-HS ngày 03/ 3/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2026/QĐXXST-HS ngày 01/4/2026 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn Ả, sinh ngày 04/4/1990 tại thành phố Hải Phòng.
Nơi cư trú: tổ dân phố G, phường L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số 031090010107; con ông Lê Văn O và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không;
- Nhân thân:
+ Ngày 30/6/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/3/2021, chấp hành xong Bản án.
+ Ngày 06/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/4/2023, chấp hành xong Bản án.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2025, bị tạm giam từ ngày 02/12/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (phân trại Uông Bí). Có mặt.
2. Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/01/1979 tại tỉnh Ninh Bình.
Nơi cư trú: tổ dân phố C, phường L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số 036079000554; con ông Nguyễn Văn Á và bà Trần Thị B; có vợ là Nguyễn Thị M1 và hai con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009); tiền sự: không; tiền án: không;
Đầu thú và bị bắt tạm giữ từ ngày 24/11/2025, bị tạm giam từ ngày 03/12/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (phân trại Uông Bí). Có mặt.
- Bị hại:
1. Công ty Cổ phần X (sau đây viết tắt là CPXM&XD) Quảng Ninh. Địa chỉ. Địa chỉ: khu H, phường Y, tỉnh Quảng Ninh. Người đại diện theo pháp luật: ông Tô Ngọc H1 – chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Minh Đ – Phó phòng an ninh kiểm soát (theo Văn bản ủy quyền ngày 17/10/2025 của Tổng giám đốc công ty). Có mặt.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn (sau đây viết tắt là TNHH) Hoàng Thạch . Địa chỉ: cụm C, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Người đại diện theo pháp luật: bà Lãnh Thị H2 – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc công ty. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1984. Địa chỉ: tổ dân phố C, phường L, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
2. Anh Hoàng Minh H3, sinh năm 2003. Địa chỉ: thôn D, xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
- Người làm chứng: anh Đinh Văn B1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12/2025, lợi dụng đêm tối và sự sơ hở trong công tác bảo vệ của chủ sở hữu, Lê Văn Ả đã 2 lần trộm cắp dây cáp điện tại khu vực phường M và phường Y, tỉnh Quảng Ninh. Cụ thể:
- Lần thứ nhất: khoảng 19 giờ ngày 14/10/2025, Lê Văn Ả mang theo 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 dao dọc giấy, 01 kìm cắt cáp rồi gọi điện và thuê anh Đinh Văn B1 điều khiển xe ô tô (M2 biển kiểm soát 15A-959.82) chở sang phường Y, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến đoạn đường thuộc Quốc lộ A cách công ty CP X1 khoảng 300m, Ảnh xuống xe bảo anh B1 đi về khi nào xong việc sẽ gọi anh B1 quay lại đón. Sau đó, Ảnh đi đến trèo qua tường rào vào bên trong khuôn viên công ty rồi đến khu vực sàng tuyển than. Tại đây, thấy hệ thống băng chuyền tải không hoạt động, có nhiều dây cáp điện, không có người trông coi nên Ảnh đã dùng kìm cắt cáp mang theo cắt khoảng 255m dây cáp điện các loại (gồm: 50m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC3x95; 170m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC3x10+1x6; 35m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC3x25+1x16), Ảnh tiếp tục cắt các dây cáp nêu trên thành nhiều đoạn ngắn (khoảng 10 đoạn) rồi dùng dao dọc giấy rạch, tách vỏ nhựa của cáp để lấy dây đồng. Sau đó, Ảnh cho toàn bộ số dây đồng đã tách được vào trong một vỏ bao tải nhặt được( trong khu vực sàng tuyển), bê bao dây đồng này theo lối cũ ra ngoài và đem giấu vào bụi cỏ gần quốc lộ A rồi gọi anh B1 quay lại đón chở về nhà. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 15/10/2025, Ảnh sử dụng điện thoại (Masstel gắn sim số 0786.727586) gọi cho Nguyễn Văn H để bán dây đồng. H biết các dây đồng do Ảnh bán là tài sản do Ảnh trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua. Sau đó, Ảnh điều khiển xe mô tô (Honda Wave biển kiểm soát 15B1-201.95) quay lại vị trí cất giấu, chở bao tải chứa dây đồng đã trộm cắp đến nhà H (tại tổ dân phố C, phường L, thành phố Hải Phòng) cân được 42,1kg dây đồng. H trả cho Ảnh 8.300.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản số 4404199066 tại Ngân hàng thương mại cổ phần K của Ảnh. Sau đó, Ảnh đã sử dụng hết số tiền này.
- Lần thứ hai: Trước đó, vào khoảng tháng 9/2025, phát hiện nhà xưởng của Công ty TNHH H (thuộc khu K, phường M) không có người trông coi, Ảnh đã trèo qua bờ tường, chui qua lỗ hổng vách tôn của xưởng vào trong nhà xưởng thì thấy bên trong có nhiều dây cáp điện trên vỏ có chữ 3CX95+1Cx50 SQM, nhưng do không mang theo dụng cụ gì nên Ảnh đã quay về.
Đến khoảng 20 giờ ngày 18/11/2025, Ảnh mang theo túi nilon màu đen bên trong có các dụng cụ để cắt cáp điện (gồm: 01 kìm cắt cáp, 03 dao dọc giấy, 01 hộp chứa 10 lưỡi dao dọc giấy, 01 đôi găng tay) rồi gọi điện thuê anh Đinh Văn B1 điều khiển xe ô tô (M2 biển kiểm soát 15A-959.82) chở đến gần khu vực xưởng của Công ty TNHH H (nêu trên) rồi xuống xe, bảo anh B1 đi về. Ảnh ngồi chờ đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì đi theo lối đã đột nhập lần trước vào trong nhà xưởng, dùng kìm và dao dọc giấy cắt hai đầu dây cáp điện ở hai đầu cầu dao điện trong hai tủ điện được 1 đoạn dài 72,4m, sau đó cắt thành 10 đoạn ngắn rồi kéo ra bãi đất trống gần xưởng cất giấu. Đến khoảng 04 giờ ngày 19/11/2025 thì Ảnh gọi điện cho anh B1 quay xe ô tô lại đón để chở Ảnh về nhà.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/11/2025, Ảnh mang theo một túi nilon đen (bên trong có 01 kìm cắt cáp, 02 dao dọc giấy, 01 hộp chứa 10 lưỡi dao dọc giấy, 01 đôi găng tay vải) tiếp tục thuê anh B1 chở đến địa điểm hôm trước. Ảnh xuống xe đi bộ khoảng 300m đến vị trí cất giấu dây cáp điện, kéo các đoạn dây cáp đến khu vực bụi cỏ gần nghĩa địa cách đó khoảng 200 mét rồi dùng dao dọc giấy cầm theo rạch vỏ cáp điện, tách lấy dây đồng ra và gập lại. Đến khoảng 02 giờ ngày 20/11/2025, Ảnh cho toàn bộ dây đồng đã được tách vỏ nhựa vào 06 chiếc bao tải dứa rồi cất giấu cùng với số dây cáp điện chưa tách vỏ nhựa rồi đi ra đường gọi điện cho anh B1 quay lại đón chở về nhà. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, Ả điều khiển xe mô tô (Honda Wave biển kiểm sát 15B1-201.95) quay lại vị trí đã cất giấu chở 04 bao dây đồng đến điểm mua bán phế liệu của Nguyễn Văn H bán. H biết số dây đồng Ảnh mang đến bán là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua, cân được 140kg dây đồng và trả cho Ảnh 33.600.000 đồng tiền mặt. Sau khi bán dây đồng cho H xong, Ảnh điều khiển xe mô tô quay lại vị trí cất giấu chở tiếp 02 bao dây cáp điện còn lại về nhà dùng dao dọc giấy tách vỏ nhựa để lấy dây đồng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Ả gọi điện rồi chở 02 bao dứa chứa dây đồng đến bán cho H, cân được 84kg dây đồng, H trả cho Ảnh số tiền 20.100.000 đồng.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/11/2025, Ảnh tiếp tục thuê anh B1 chở đến khu vực gần nhà xưởng của Công ty TNHH H rồi xuống xe bảo anh B1 đi về. Ảnh ngồi chờ đến khoảng hơn 00 giờ ngày 22/11/2025 thì đo đến vị trí cất giấu số dây cáp điện (còn lại), sử dụng dao dọc giấy tách vỏ nhựa của toàn bộ số dây cáp này cho vào trong một bao dứa (lấy trong nhà xưởng), mang đến khu vực gần đường quốc lộ 18 cất giấu. Sau đó, Ả gọi điện cho anh B1 đến đón chở về nhà. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, Ảnh điều khiển xe mô tô quay lại chở bao dứa chứa dây đồng đến nhà H. Trên đường đi, Ảnh gọi điện cho H thông báo đang mang dây đồng đến bán, H đồng ý. Khi đến nơi, H cân bao dây đồng được 49,5kg và trả cho Ảnh số tiền11.900.000 đồng.
Khối lượng dây đồng Ảnh đã bán là 276kg, số tiền H đã trả cho Ảnh là 65.600.000đ. Ngày 22/11/2025, đại diện Công ty TNHH H phát hiện sự việc nên đã đến Công an phường M trình báo.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 23/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đãgiữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Văn Ả, thu giữ: 01 điện thoại di động OPPO K12x5G kèm sim, 01 điện thoại di động Masstel S1 kèm sim và 27.625.000 đồng. Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn Ả thu giữ: 01 kìm cắt cáp; 02 dao dọc giấy; 01 hộp chứa 10 lưỡi dao dọc giấy; 01 đôi găng tay vải màu trắng; 01 túi nilon màu đen; 01 chiếc áo khoác vải màu đen, có mũ liền, trên vai áo có 03 vạch kẻ trắng, ngực áo bên trái có chữ SUIPICE; 01 áo mưa loại mũ liền, màu xanh tím than, ngực áo bên trái may chữ Vĩnh Thịnh; 01 chiếc quần vải dài màu xanh dương; 01 đôi giày thể thao nhãn hiệu ASIA; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 15B1-201.95.
Đến ngày 24/11/2025, Nguyễn Văn H đã đến Công an phường M đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H thu giữ 07 bao tải chứa 276kg dây đồng và 01 bao tải chứa vỏ nhựa màu xanh, trắng, đỏ được tách ra từ dây cáp điện.
*Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 25/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND phường Y kết luận: Giá trị của 50m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x95 0.6/1KV CDS, 170m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x10+1x6 0.6/1KV CDS và 35m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x25+1x16 0.6/1KV CDS tại thời điểm ngày 14/10/2025 trên địa bàn phường Y là 12.546.000 đ (mười hai triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 01/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND phường M kết luận: Giá trị của 72,4m dây cáp điện ba pha, bên ngoài là vỏ nhựa, ký hiệu trên thân vỏ 3CX95+1Cx50 SQM là 69.276.000 đ (sáu mươi chín triệu hai trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng).
- Đại diện công ty CP X1 (ông Trần Minh Đ) có lời khai: khoảng 16 giờ 10 ngày 16/10/2025 công nhân của nhà máy X2 (thuộc công ty CP X1) phát hiện tại hiện trường dây chuyền sàng tuyển than bị kẻ gian đột nhập và cắt trộm toàn bộ cáp điện từ tủ điện trung tâm ra các băng tải của dây chuyền sàng tuyển gồm: khoảng 50 m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x95; 170 m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x10+1x6 và 35m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x25+1x16. Toàn bộ dây cáp trên bị kẻ gian cắt và tước vỏ nhựa vứt lại tại tại hiện trường, chỉ lấy đi phần lõi đồng. Tại phiên tòa, đại diện công ty CP X1 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho công ty số tiền 12.546.000 đồng như giá trị thiệt hai cơ quan chức năng đã xác định trong quá trình điều tra.
- Đại diện công ty TNHH H (bà Lãnh Thị H2) có lời khai: khoảng 10 giờ 30 ngày 20/11/2025 khi đang làm việc thì bà nhận được thông tin về việc dây cáp điện tại xưởng gạch viền thuộc công ty của bà bị mất trộm. Sau đó, bà đã đến kiểm tra, khi vào xưởng nhìn vào bên trong tủ điện ở cửa ra vào bà phát hiện ba dây cáp điện 03 pha (bên ngoài là nhựa, bên trong là lõi đồng) có ký hiệu thân vỏ 3CX95 + 1Cx50 SQM bị cắt đứt. Bà đi tiếp vào phía tủ điện đặt ở vị trí cuối xưởng gạch vì thì cũng phát hiện ba dây cáp điện 3 pha (bên ngoài là nhựa, bên trong là lõi đồng) có ký hiệu thân vỏ 3CX95 + 1Cx50 SQM cũng bị cắt đứt (ba dây cáp điện này được nối từ tủ điện đầu xưởng đến tủ điện cuối xưởng). Sau đó, bà tiếp tục kiểm tra xung quanh khu vực nhà xưởng, phát hiện tại vị trí cửa sổ thứ ba (tính từ đầu xưởng xuống) tại thanh chắn ngang cửa sổ bằng kim loại thứ 5 từ dưới lên bị cong vênh trũng xuống, nền bê tông tại vị trí này có vết xước, trên tường phía bên trái cửa sổ có nhiều vết chân. Bà đi tiếp ra bờ mương phía bên ngoài cửa sổ thì thấy nhiều mảnh nhựa màu trắng vương vãi trên nền đất. Sau đó, bà đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Tài sản bị thiệt hại của công ty TNHH H là 72,4 m dây cáp điện loại 3 pha (có đặc điểm như đã nêu trên), bà đã được thông tin về kết quả xác định giá trị số dây cáp này là 69.276.000 đồng và người trộm cắp tài sản của công ty là Lê Văn Ả. Sự việc xảy ra đã gây thiệt hại nặng nề cho công ty, do dây chuyền sản xuất bị đình trệ, số lượng sản phẩm bị giảm sút so với kế hoạch đề ra làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh doanh của công ty. Sau đó, bị cáo H đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho công ty với số tiền là 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà đề nghị cho công ty xin được nhận lại số dây đồng đã thu giữ được tại nhà bị cáo H và đề nghị các bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 50.000.000 đồng. Đại diện công ty TNHH H có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
- Lời khai của chị Nguyễn Thị M1 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) như sau: chị là vợ của bị cáo Nguyễn Văn H, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ chồng đều không có công ăn việc làm nên gia đình chị đã mở điểm thu mua phế liệu tại tổ dân phố C, phường L, thành phố Hải Phòng. Vào khoảng 4 giờ 30 phút ngày 20/11/2025, trong lúc gia đình đang ngủ thì nghe thấy tiếng gọi cửa. Lúc này Nguyễn Văn H đi ra mở cửa, còn chị vẫn nằm ở trong phòng ngủ. Chị có thấy tiếng chồng chị (Nguyễn Văn H) nói chuyện với một người đàn ông (chị không biết người này là ai), một lúc sau thì H có vào hỏi chị là “đồng cáp dây điện thì được bao nhiêu tiền một kilogram”, chị trả lời “được 240.000 đồng/kg”, nghe vậy thì H quay ra để cân hàng, khoảng mấy phút sau thì H vào bảo chị lấy số tiền 33.600.000 đồng để trả cho người đàn ông trên. Sau khi thanh toán xong thì H vào nhà ngủ tiếp. Chị cũng không hỏi lại việc mua hàng của khách như thế nào. Đến khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, trong lúc chị dọn dẹp nhà cửa, còn Nguyễn Văn H đang ở ngoài cân hàng cho khách, thì có một người đàn ông khoảng 35 tuổi, điều khiển xe mô tô chở theo hai bao tải dứa màu vàng ở đằng sau xe vào cửa hàng. Khi đến nơi, người đàn ông này có trao đổi với H, nội dung cụ thể chị không rõ. Sau đó, H vào nói với chị là “người đàn ông lúc sáng sớm đến bán đồng cáp dây điện”. Sau khi cân xong hàng thì H lại vào bảo chị đưa số tiền là 20.112.000 đồng để thanh toán cho người đàn ông, nhưng chị bảo trả 20.100.000 đồng, còn số lẻ thì thôi và chị đã đưa tiền để H thanh toán cho người đàn ông. Đến khoảng hơn 03 giờ sáng ngày 22/11/2025 khi gia đình chị đang ngủ, thì lại có tiếng người đàn ông gọi cửa, H ra mở cửa và nói chuyện với người đàn ông này, nội dung cuộc nói chuyện như nào thì chị không rõ, một lúc sau H vào bảo chị đưa số tiền là 11.880.000 đồng, nhưng chị đưa H 11.900.000 đồng để thanh toán cho người đàn ông trên. Sau đó người đàn ông rời khỏi cửa hàng, còn chị và H lại tiếp tục đi ngủ. Những đồ vật người đàn ông trên bán cho gia đình chị là lõi đồng dây cáp diện, có bán kính khoảng 1,5cm, chiều dài thì chị không rõ do người đàn ông trên có cuộn rất nhiều vòng lại và cắt thành nhiều đoạn cho vào các bao tải dứa màu vàng, gồm 07 bao, mỗi bao có số kilogram từ 30 đến 50 kilogram. Gia đình chị đã thu mua của người đàn ông trên tất cả 03 lần, số tiền đã trả là 65.600.000 đồng. Do quá trình thu mua, chồng chị (Nguyễn Văn H) là người trực tiếp giao dịch, chị chỉ là người đưa tiền để chồng thanh toán nên nguồn gốc số đồ vật (lõi đồng dây cáp điện) và khối lượng cụ thể chị không rõ. Chị hoàn toàn không biết số đồ vật này là do người đàn ông trộm cắp mà có. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo H đã chủ động bảo chị vay mượn họ hàng để tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại đã gây ra cho công ty TNHH H với số tiền là 10.000.000 đồng.
- Anh Đinh Văn B1 có lời khai trong quá trình điều tra như sau: nhà anh và nhà Lê Văn Ả sinh sống gần nhau. Do biết anh làm công việc lái xe taxi nên từ ngày 18/11/2025 đến ngày 22/11/2025, Ảnh đã 03 lần thuê anh chở đến rìa đường Q, thuộc khu K, phường M, tỉnh Quảng Ninh (chi tiết như tóm tắt nội dung vụ án đã nêu). Những lần chở đi, Lê Văn Ả chỉ bảo là đi có việc, anh cũng không hỏi cụ thể vì không liên quan đến mình. Anh hoàn toàn không biết Ảnh trộm cắp tài sản hay làm việc gì vi phạm pháp luật vì Ảnh không nói cho anh biết đi làm gì, gặp ai và khi đón Ảnh về anh cũng không thấy có tài sản hay đồ vật gì phát sinh. Đến sau này, khi làm việc với cơ quan Công an anh mới biết Ảnh đã trộm cắp dây cáp điện để bán lấy tiền. Ngoài ra, trước đó vào khoảng giữa tháng 10/2025 anh có điều khiển xe taxi chở anh Lê Văn Ả đi một lần đến khu vực gần nhà máy X2, thuộc phường Y, tỉnh Quảng Ninh. Cụ thể: khoảng 19 giờ một ngày giữa tháng 10 năm 2025 khi anh đang ở nhà thì Ảnh gọi điện thoại bảo anh lái xe tắc xi chở đi U. Khi lên xe, anh thấy Ảnh cầm theo một túi đen, không rõ bên trong đựng gì. Anh điều khiển xe đi đến rìa đường quốc lộ 10A chỗ vắng dân cư (gần Công ty X3, thuộc phường Y, tỉnh Quảng Ninh) thì Ả bảo dừng xe lại để Ảnh xuống xe, Ảnh bảo anh cứ về, bao giờ xong việc thì Ảnh gọi đón. Sau đó, Ảnh xuống xe đi bộ còn anh điều khiển xe quay về nhà. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày hôm sau thì Ảnh gọi điện bảo anh đến đón. Khi đến nơi, anh đã thấy Ả cầm theo túi đen lúc trước và đang chờ ở rìa đường, sau đó anh chở Ảnh về nhà. Những lần chở đi, anh chỉ lấy tiền xe như những người khách bình thường khác, anh không lấy thêm tiền của Ảnh và Ả cũng không cho hoặc trả thêm tiền cho anh.
- Anh Hoàng Minh H3 có lời khai về nguồn gốc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số đăng ký 14AA-150.01 là của anh mua từ tháng 5/2024. Tuy nhiên, đến khoảng tháng 3/2025, anh bị ngã xe nên khiến chiếc xe bị hư hỏng. Thời điểm này Lê Văn Ả (là người cùng làm việc với anh) hỏi mượn xe, chi phí sửa chữa Ảnh sẽ bỏ ra. Anh hoàn toàn không biết việc Ảnh sử dụng chiếc xe của anh làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 28/CT - VKSQNH-KV5 ngày 02/3/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh đã quyết định:
Truy tố bị cáo Lê Văn Ả về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Đề nghị áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Ả từ 36 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 23/11/2025).
+ Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 323; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 24/11/2025).
- Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: đề nghị áp dụng các điểm a và b khoản 1 Điều 46, các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 và các điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
+ Buộc bị cáo Lê Văn Ả phải có trách nhiệm bồi thường cho công ty CP X1 số tiền 12.546.000 đồng.
+ Buộc bị cáo Lê Văn Ả phải có trách nhiệm bồi thường cho công ty TNHH H số tiền 50.000.000 đồng.
+ Trả lại công ty TNHH H bao tải chứa dây đồng có tổng trọng lượng 276 kg cả bì.
+ Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: số tiền 27.625.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Ả và ba chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo.
+ Tịch thu, tiêu hủy: các sim điện thoại (gắn kèm ba chiếc điện thoại di động đã tịch thu của các bị cáo); một bao tải chứa vỏ nhựa; một kìm cắt cáp; hai dao dọc giấy; một hộp chứa 10 lưỡi dao dọc giấy; một đôi găng tay vải màu trắng; một túi ni lon màu đen; một áo vải màu đen; một áo mưa loại mũ liền; một quần vải dài màu xanh dương; một đôi giày thể thao; các đoạn vỏ cáp có tổng chiều dài 72,4 m và hai bao nhựa chứa nilon trắng và nhựa đen.
Các bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt tại phiên tòa) không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá về hành vi của các bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh đã truy tố:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận:
Lợi dụng đêm tối và sự sơ hở trong công tác bảo vệ của chủ sở hữu, vào đêm ngày14/10/2025 bị cáo Lê Văn Ả đã trộm cắp dây cáp điện của công ty CP X1, bóc lấy dây đồng rồi đem bán cho Nguyễn Văn H. Sau đó, vào ngày 18/11/2025, bị cáo Ảnh tiếp tục trộm cắp dây cáp điện của công ty TNHH H, sau đó bóc lấy dây đồng rồi đem bán cho Nguyễn Văn H; bị cáo H biết những lõi dây đồng do Ảnh trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua (như phần tóm tắt nội dung vụ án đã nêu).
Cơ quan chức năng đã xác định: giá trị tài sản bị cáo Lê Văn Ả chiếm đoạt của công ty CP X1 là 12.546.000 đồng; giá trị tài sản bị cáo Lê Văn Ả chiếm đoạt của công ty TNHH H là 69.276.000 đồng.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:
- Vào ngày 14/10/2025 tại phường Y, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Lê Văn Ả đã có hành vi trộm cắp 50m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x95 0.6/1KV CDS, 170m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x10+1x6 0.6/1KV CDS và 35m dây cáp điện Cu/XLPE/PVC 3x25+1x16 0.6/1KV CDS của công ty CP X1 có tổng trị giá 12.546.000 đồng. Vào ngày 18/11/2025, tại phường M, tỉnh Quảng Ninh bị cáo Lê Văn Ả tiếp tục có hành vi trộm cắp 72,4m dây cáp điện ba pha, bên ngoài là vỏ nhựa, ký hiệu trên thân vỏ 3CX95+1Cx50 SQM của Công ty TNHH H có trị giá 69.276.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Ảnh đã chiếm đoạt là 81.822.000 đồng.
Sau khi chiếm đoạt được số dây cáp điện nêu trên, Ảnh tách vỏ nhựa lấy lõi đồng mang đi bán cho Nguyễn Văn H. Bị cáo H mặc dù biết rõ tài sản (lõi dây đồng) là do Ảnh trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua.
Hành vi của bị cáo Lê Văn Ả đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Bản cáo trạng số 28/CT - VKSQNH-KV5 ngày 02/3/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
Đánh giá về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình thức xử lý đối với các bị cáo:
3.1 Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy:
Các bị cáo pham tội độc lập với nhau, hành vi của bị cáo Lê Văn Ả gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của các tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng nghiệm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho các tổ chức và cá nhân, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Toàn bộ hành vi nêu trên của các bị cáo cần phải bị xử lý theo quy định của pháp luật, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Bị cáo Lê Văn Ả trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là thiết bị liên quan đến dây chuyền sản xuất, làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nên được xác định có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Nguyễn Văn H biết rõ về nguồn gốc tài sản là do bị cáo Ả phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua để nhằm bán lai kiếm lời, do vậy phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
3.2. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn Ả trước đây đã hai lần bị Tòa án kết án đều về tội “Trộm cắp tài sản”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng cũng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu; còn bị cáo Nguyễn Văn H trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo đều hai lần thực hiện hành vi phạm tội, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
+ Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Sau khi cơ quan chức năng phát hiện tội phạm, bị cáo H nhận thức được sai lầm của mình đã chủ động ra đầu thú; bản thân bị cáo mặc dù không trực tiếp gây ra thiệt hại cho các bị hại nhưng đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại; được đại diện bị hại (công ty TNHH H) xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
3.3. Về hướng xử lý đối với các bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xét nhân thân, hoàn cảnh gia đình và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo Lê Văn Ả và Nguyễn Văn H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Tuy nhiên, đối với bị cáo Nguyễn Văn H, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, vì hoàn cảnh khó khăn nên đã hám lợi trước mắt mà dẫn đến phạm tội; bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất quy định tại khung hình phạt đang được áp dụng để bị cáo có điều kiện sửa chữa sai lầm, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, phấn đấu lao động, sản xuất, chăm lo cho gia đình và trở thành công dân có ích.
Về trách nhiệm dân sự.
Quá trình điều tra công ty TNHH H đã nhận 10.000.000 đồng số tiền bồi thường từ gia đình bị cáo H, tại phiên tòa công ty có đề nghị xin được nhận lại 276 kg dây đồng (bị cáo Ả đã tách ra được từ số dây cáp điện chiếm đoạt của công ty TNHH H) và yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm 50.000.000 đồng liên quan đến các thiệt hại về sản xuất, kinh doanh do dây chuyền sản xuất bị đình trệ.
Đại diện Công ty CP X1 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 12.546.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Ảnh có ý kiến xin lỗi các bị hại và xin nhận sẽ tự có trách nhiệm bồi thường thêm cho công ty TNHH H số tiền 50.000.000 đồng và bồi thường cho công ty CP X1 số tiền 12.546.000 đồng; đại diện các bị hại đều đồng ý với ý kiến nêu trên của bị cáo Ảnh. Xét thấy nội dung thỏa thuận của các bên là tự nguyện, phù hợp với thực tế thiệt hại đã xảy ra và không vi phạm các quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về vật chứng, các tài sản, đồ vật đã thu giữ và các vấn đề khác:
- Ba chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo, xét thấy đều có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- Số tiền 27.625.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Ảnh có nguồn gốc do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- Các sim điện thoại (gắn kèm những chiếc điện thoại di động đã tịch thu của các bị cáo nêu trên); một bao tải chứa vỏ nhựa; một kìm cắt cáp; hai dao dọc giấy; một hộp chứa 10 lưỡi dao dọc giấy; một đôi găng tay vải màu trắng; một túi ni lon màu đen; một áo vải màu đen; một áo mưa loại mũ liền; một quần vải dài màu xanh dương; một đôi giày thể thao; các đoạn vỏ cáp có tổng chiều dài 72,4 m và hai bao nhựa (chứa nilon trắng và nhựa đen) đều là những vật chứng liên quan đến tội phạm, xét thấy đều đã cũ hỏng hoặc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave thu giữ trong vụ án này, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của anh Hoàng Minh H3, cơ quan điều tra đã làm thủ tục trả lại. Sau khi nhận lại tài sản anh H3 không có đề nghị gì thêm nên không đề cập giải quyết.
- Ngoài hành vi phạm tội đã bị xử lý trong vụ án này, quá trình điều tra bị cáo Lê Văn Ả còn khai đã nhiều lần trộm cắp tài sản tại một số địa phương nhưng không nhớ được địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm bị hại, vật chứng liên quan nhưng đến nay chưa xác định được nên đang tiếp tục làm rõ.
- Đối với anh Đinh Văn B1 là người điều khiển xe ô tô chở bị cáo Lê Văn Ả nhưng không biết Ảnh đi trộm cắp tài sản nên không đề cập xử lý. Đối với chị Nguyễn Thị M1 mặc dù đưa tiền để H mua dây đồng của Ảnh nhưng không biết nội dung giao dịch mua bán giữa H và Ảnh, không biết tài sản mua bán là do trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
*Căn cứ vào:
- Khoản 1, các điểm a, b khoản 2 và các điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 326; Điều 329; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Các điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Bị cáo Lê Văn Ả phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Ả 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 23/11/2025).
- Áp dụng: khoản 1 Điều 323; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 24/11/2025).
3. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng các điểm a và b khoản 1Điều 46, các điểm a và b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự:
3.1 Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Lê Văn Ả phải bồi thường cho Công ty CP X1 số tiền 12.546.000 đ (mười hai triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
- Buộc bị cáo Lê Văn Ả phải bồi thường cho Công ty TNHH H số tiền 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3.2 Về vật chứng và tài sản đã thu giữ:
- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 27.625.000 đ (hai mươi bẩy triệu sáu trăm hai mươi năm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo Ảnh.
Số tiền này hiện đang được lưu giữ tại Phòng G, K1 khu vực 3 theo Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số A633/2026/BBBQ-CQCSĐT ngày 13/2/2026 giữa đại diện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và đại diện Phòng G, Kho bạc nhà nước khu vực 3.
- Trả lại công ty TNHH H bao tải chứa dây đồng có tổng trọng lượng 276 kg cả bì.
- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: ba chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo.
- Tịch thu, tiêu hủy: các sim điện thoại (gắn kèm ba chiếc điện thoại di động đã bị tịch thu sung ngân sách nhà nước nêu trên); một bao tải chứa vỏ nhựa; một kìm cắt cáp; hai dao dọc giấy; một hộp chứa 10 lưỡi dao dọc giấy; một đôi găng tay vải màu trắng; một túi ni lon màu đen; một áo vải màu đen; một áo mưa loại mũ liền; một quần vải dài màu xanh dương; một đôi giày thể thao; các đoạn vỏ cáp có tổng chiều dài 72,4 m và hai bao nhựa chứa nilon trắng và nhựa đen.
Tình trạng các tài sản, vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng số 51 ngày 03/3/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh (do đại diện phòng thi hành án dân sự khu vực 5-Quảng Ninh nhận theo ủy quyền).
4. Về án phí:
- Bị cáo Lê Văn Ả phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.127.000 đ (ba triệu một trăm hai mươi bẩy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng bị cáo Ảnh phải chịu 3.327.000 đ (ba triệu ba trăm hai mươi bẩy nghìn đồng) án phí.
- Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hai, người có QLNVLQ; - TAND tỉnh Q. Ninh; - Viện KSND khu vực 5 – Q. Ninh; - Viện KSND tỉnh Q. Ninh; - PC01, PC06, PC10 Công an tỉnh Q. Ninh; - Trại TG Công an tỉnh Q. Ninh; - THA DS tỉnh Q. Ninh; - Lưu VT, HS,VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Khắc Tuyn THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Khắc Tuyn |