- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo M về tội Trộm cắp - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Võ Minh M phạm tội “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2026/HS-ST Ngày: 11/6/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – CẦN THƠ
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Trần Thị Nhung.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:""
1. Ông Nguyễn Văn Sơn.
2. Ông Nguyễn Thanh Phương.
Thư"ký"phiên"tòa: Ông Nguyễn Quang Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Khu"vực"13"–"Cần"Thơ"tham"gia"phiên" tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2026/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Võ Minh M (Tên gọi khác không); sinh ngày 30/8/2006, tại thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện nay: Số 224, khu vực A, phường K, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; con ông Võ Trọng C, sinh năm: 1986 (Sống) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1987 (Sống).
- Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
- Bị cáo Võ Minh M đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 19/12/2025 đến ngày 24/12/2025 khởi tố chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam Ninh Kiều, Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Cần Thơ cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người"bào"chữa"cho"bị"cáo: Luật sư Nguyễn Sỹ Kim – Văn phòng luật sư Sỹ Kim, Đoàn luật sư thành phố Cần Thơ (Có mặt)
-"Bị"hại:"Phạm Thị Q; sinh năm: 1959 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ; -"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ" liên"quan:"
1/ Anh Trần Công K; sinh năm: 2003 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ.
2/ Anh Trần Hữu H; sinh năm: 2000 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu vực Đ, phường Đ, thành phố Cần Thơ.
3/ Anh Nguyễn Thông N; sinh năm: 2000 (Có mặt)
Địa chỉ: Số A, ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ.
-"Người"làm"chứng:"Ông Nguyễn Thanh N; sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Minh M sống cùng bà nội là bà Phạm Thị Q, sinh năm 1959, ở số A, khu vực L, phường Đ, thành phố Cần Thơ, bị cáo M không có nghề nghiệp và thường xuyên chơi các trò chơi điện tử có nạp tiền nên bị cáo M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà Q để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và nạp tiền chơi game. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/11/2025, lợi dụng cả nhà đi vắng nên bị cáo M vào phòng ngủ của bà Q để tìm tài sản lấy trộm, bị cáo M đi đến tủ đựng quần áo của bà Q (tủ nhôm không khoá) thì phát hiện 01 cái ví da sọc caro màu đỏ bên trong có các tài sản gồm: 01 sợi dây chuyền vàng, mặt dây chuyền hình chữ nhật, loại vàng 24k, tổng trọng lượng 1,2 lượng; 01 sợi dây chuyền vàng, mặt dây chuyền gắn đá hình phật màu xanh, loại vàng 18k, trọng lượng 05 chỉ 03 phân 06 ly; 01 nhẫn vàng, mặt hình vuông, loại vàng 24k, trọng lượng 05 chỉ; 01 nhẫn vàng đính đá màu xanh, loại vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ, bị cáo M lấy trộm hết các tài sản trong ví da. Sau đó, bị cáo M đến tiệm vàng "K" của bà Phan Thị Phương T, sinh năm 1996 ở đường T, khu vực A, phường N, thành phố Cần Thơ bán 01 sợi dây chuyền vàng, mặt dây chuyền hình chữ nhật, loại vàng 24k, tổng trọng lượng 1,2 lượng và 01 sợi dây chuyền vàng, mặt dây chuyền gắn đá hình phật màu xanh, loại vàng 18k, trọng lượng 05 chỉ được số tiền 216.700.000 đồng.
Đến khoảng 11 giờ ngày 22/11/2025, bị cáo M tiếp tục đến tiệm vàng "K" bán 01 nhẫn vàng, mặt hình vuông, loại vàng 24k, trọng lượng 05 chỉ được số tiền 66.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo M bán vàng có được là 282.700.000 đồng.
Đối với số tiền bản vàng có được, bị cáo M đến shop sữa "Đăng Nhiên" của anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1988, ở chợ Cầu Trắng thuộc ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ đề nhờ anh Nhân nạp tiền vào app game thông qua quét mã QR nhiều lần số tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, chuyển vào tài khoản số 1060866239 mở tại Ngân hàng Vietcombank của bị cáo M số tiền 100.000.000 đồng; cho anh Trần Hữu L, sinh năm 2000, ngụ ấp Đô, phường D, thành phố Cần Thơ mượn 15.000.000 đồng; cho anh Nguyễn Thông N, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ mượn 10.000.000 đồng; cho anh Trần Công K, sinh năm 2003, ngụ ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ mượn 30.000.000 đồng; Sửa xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn trắng đỏ đen, biển số kiểm soát 63B1-685.46 với số tiền 25.000.000 đồng. Số tiền còn lại bị cáo M tiêu xài cá nhân hết.
Sáng ngày 19/12/2025, bà Phạm Thị Q kiểm tra phát hiện tài sản của mình bị mất trộm nên đến Công an phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ trình báo sự việc. Đến 12 giờ cùng ngày, bị cáo Võ Minh M đến Công an xã Đại Thành đầu thú thừa nhận toàn bộ hành vị phạm tội của mình như đã nêu trên, đồng thời giao nộp 01 mặt dây chuyền vàng gắn đá hình phật màu xanh, trọng lượng 3,6 phân vàng 18K, 01 nhẫn vàng đính đá màu xanh, trọng lượng 02 chỉ vàng 24k và 01 ví da sọc caro màu đỏ. Đến 23 giờ 20 phút ngày 19/12/2025, anh Trần Công K giao nộp số tiền 30.000.000 đồng, đến ngày 20/12/2025 anh Trần Hữu Lợi giao nộp số tiền 15.000.000 đồng, anh Nguyễn Thông N giao nộp số tiền 10.000.000 đồng.
Tại Kết luận về việc định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ, kết luận:
- 01 sợi dây chuyền vàng, mặt dây chuyền hình chữ nhật, loại vàng 24k, tổng trọng lượng 1,2 lượng (tài sản không thu hồi được), có giá trị 160.800.000đ (13.400.000 đồng /01 chỉ);
- 01 sợi dây chuyền vàng, loại vàng 18k, trọng lượng 05 chỉ (tài sản không thu hồi được), có giá trị 41.000.000 đồng (8.200.000 đồng /01 chỉ).
- 01 nhẫn vàng, mặt hình vuông, loại vàng 24k, trọng lượng 05 chỉ (tài sản không thu hồi được), có giá trị 67.000.000đ (13.400.000 đồng / 01 chi).
- 01 mặt dây chuyền vàng gắn đá hình phật màu xanh, loại vàng 18k, trọng lượng 3,6 phân (tài sản đã thu hồi), có giá trị 2.952.000 đồng.
- 01 nhẫn vàng đính đá màu xanh, loại vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ (tài sản đã thu hồi), có giá trị 26.800.000 đồng (13.400.000 đồng /01 chỉ).
Tổng giá trị tài sản là 298.552.000 đồng.
Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra đã tạm giữ và xử lý như sau:
- Trả cho bị hại Phạm Thị Q 01 mặt dây chuyền vàng gắn đá hình phật màu xanh, trọng lượng 3,6 phân vàng 18k; 01 nhẫn vàng đính đá màu xanh, trọng lượng 02 chỉ vàng 24k; 01 ví da sọc caro màu đỏ; Tiền Việt Nam 55.000.000 đồng.
- Chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 13 - Cần Thơ quản lý: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn trắng-đỏ-đen, biển số kiểm soát 63B1-685.46 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 63B1-685.46; 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám của bị cáo M.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Thị Q yêu cầu bị cáo Võ Minh M bồi thường số tiền 140.000.000 đồng, bị cáo M đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Q số tiền 140.000.000 đồng, bị hại Q đã nhận tiền và không yêu cầu.
Tại Cáo trạng số 66/CT-VKS-KV13 ngày 14/5/202626 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13 truy tố bị cáo Võ Minh M về Tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại"phiên"tòa,"
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Võ Minh M và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Minh M phạm Tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Minh M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
- Ý kiến người bào chữa cho bị cáo Võ Minh M: Về tội danh, điều luật áp dụng đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát, tuy nhiên về tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, phía bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về phụng dưỡng bị hại là bà nội.
- Ý kiến người bị hại: Bị cáo sống cùng với bị hại là bà nội của bị cáo, lúc bị cáo lấy trộm vàng của bị hại, bị hại không biết là cháu nội mình lấy bị hại rất ân hận, bị hại không muốn cháu nội bị ở tù, bị hại mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất cho bị cáo sớm trở về nhà phụng dưỡng bị hại vì bị hại đã già lớn tuổi.
Tại phiên tòa, bị cáo M thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Trong phần tranh luận bị cáo không có tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo M xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về phụng dưỡng bà nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị báo:
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Minh M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tiếp nhận tin báo, biên bản khám nghiệm, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Do không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên chơi các trò chơi điện tử có nạp tiền nên bị cáo Võ Minh M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà nội là bà Phạm Thị Q để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và nạp tiền chơi game. Lợi dụng lúc mọi người trong gia đình đi vắng, vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/11/2025, bị cáo đã lén lút lấy trộm tại phòng ngủ của bà Q các tài sản gồm: 01 sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 1,2 lượng; 01 sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 05 chỉ 03 phân 06 ly; 01 nhẫn vàng 24K trọng lượng 05 chỉ; 01 nhẫn vàng 24K trọng lượng 02 chỉ. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo đã mang bán tại tiệm vàng để lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân.
Theo Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 29/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 298.552.000 đồng.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị 298.552.000 đồng của bị cáo Võ Minh M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt là của bà nội bị cáo nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân và chơi game. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo Võ Minh M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện giao nộp một phần tài sản chiếm đoạt; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường và không có yêu cầu gì thêm. Bị hại xin bãi nại đối với bị cáo với lý do bị cáo là cháu nội sống chung với bị hại, bị hại đã già lớn tuổi bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo trở về phụng dưỡng bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại bà Phạm Thị Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 140.000.000 đồng. Quá trình điều tra và trước khi xét xử, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại số tiền 140.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ và không yêu cầu gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo Võ Minh M phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 mặt dây chuyền vàng gắn đá hình phật màu xanh, 01 nhẫn vàng đính đá màu xanh, 01 ví da sọc caro màu đỏ và số tiền 55.000.000 đồng đã được Cơ quan điều tra trả lại cho bị hại là phù hợp nên không đặt ra xem xét.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter (BKS: 63B1-685.46) cùng giấy đăng ký xe. Đối với 01 điện thoại iPhone 15 Pro Max màu xám: Đây là tài sản tạm giữ của bị cáo. Cần chuyển cho Cơ quan thi hành án dân sự để tiếp tục tạm giữ, bảo đảm nghĩa vụ thi hành án hoặc xử lý theo quy định pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Võ Minh M phạm tội “Tội trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Minh M 03 (Ba) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 19/12/2025
2. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 63B1-685.46 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro Max theo hồ sơ xử lý vật chứng và thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và được bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu gì thêm.
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Minh M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo Bản án: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. *Nơi!nhận:
| - Sở tư pháp thành phố Cần Thơ; - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND Khu vực 13 – Cần Thơ; - Công an thành phố Cần Thơ; - Phân trại tạm giam KV Phụng Hiệp; - Phòng THADS Khu vực 13 – Cần Thơ; - Cơ quan THADS thành phố Cần Thơ - Bi cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhung |