vanban.org

Bản án 40/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuấn L - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2026/HS-ST
Ngày : 17-3-2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Thọ.

Ông Nguyễn Văn Luận.

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2026/TLST - HS ngày 09 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2026/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Lê Tuấn L, sinh ngày 14 tháng 01 năm 2006, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: số nhà 46, ngõ 21, đường Đ, tổ dân phố 2 Đ, phường H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang T (đã chết ) và con bà Vũ Thị Ph; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam số 1 Công an tỉnh Ninh Bình theo Quyết định tạm giam số 71/2026/HSST - QĐTG, ngày 09/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình (có mặt).

. Bị hại: anh Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 05/10/2008; Địa chỉ: phố Đ, phường H, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1984; Địa chỉ: phố Đ, phường H, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

2.3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Đặng Minh Kh, sinh năm 2006; Địa chỉ: tổ dân phố 7 Đ, phường H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

- Anh Vũ Huy H, sinh năm 2007; Địa chỉ: tổ dân phố Kh, phường H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1969; Địa chỉ: số nhà 63, ngõ 2, đường Ph, tổ dân phố 3 V, phường H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

- Anh Hồ Đức Ngh, sinh năm 2009; Địa chỉ: thôn 1, xã Gi, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Tuấn L, Đặng Minh Kh và Vũ Huy H là bạn bè với nhau. Khoảng 05 giờ sáng ngày 28/9/2025 trên đường Đ, phường H, tỉnh Ninh Bình, Lê Tuấn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 35AA-149.47 chở Vũ Huy H còn Đặng Minh Kh điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 35B3 - 033.35 sau khi đi ăn uống về đang di chuyển về nhà của Kh thì gặp Hồ Đức Ngh điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 35B2 - 674.27 chở phía sau là Nguyễn Ngọc D, di chuyển theo hướng ngược chiều. Khi đi qua ngang nhau, D do tưởng nhóm của L là người quen nên vẫn tay chào còn L cũng nhầm D là người quen nên vẫy tay lại. Thấy vậy, D bảo Ngh quay xe lại đi đến nhận bạn nhưng L khi thấy D ngồi sau xe mô tô cầm theo 01 chiếc gậy dài khoảng 40 cm thì nghĩ D và Ngh đuổi theo để đánh nhau nên bỏ chạy.

Trong quá trình bỏ chạy thì Vũ Huy H nói: “Chạy về nhà bà ngoại tao, nếu nó đuổi nữa thì xuống đánh luôn”, ý nói nếu D và Ngh tiếp tục đuổi theo thì sẽ dừng lại để đánh nhau tại khu vực nhà bà ngoại của H ở ngõ 1, đường Ph, phường H, tỉnh Ninh Bình, sau đó xe L và xe Kh di chuyển từ đường Đ rẽ vào đường L, rẽ trái vào ngõ 12, đường L, sau đó rẽ phải vào ngõ 1, đường Ph, phường H, tỉnh Ninh Bình thì đi chậm lại và quay đầu nhìn phía sau thì thấy D và Ngh tiếp tục đuổi theo. Lúc này, nhóm của L không dừng xe để đánh nhau mà tiếp tục bỏ chạy thẳng sang ngõ 2, đường Ph, phường H, khi đến cuối ngõ 2 thấy đây là ngõ cụt, nhóm của L không còn đường để tiếp tục di chuyển nên đã dừng lại. Cùng lúc này, D và Ngh đuổi kịp và dừng xe trước cửa số nhà 59, ngõ 2, đường Ph, phố 3 V, phường H. Nhóm của L thấy vậy xuống xe rồi L nhặt 01 viên gạch đỏ ở vỉa hè nhà dân, Kh nhặt 01 chiếc chổi dài khoảng 40 cm ở sát tường cuối ngõ, H sử dụng tay không và cả ba cùng tiến đến vị trí D và Ngh đang đứng cạnh xe mô tô với mục đích doạ đánh và gây thương tích. Đến gần D và Ngh, L chửi: “Địt mẹ mày đuổi ai vậy”, Ngh nói: “Đâu em có làm gì các anh đâu”. Sau đó, L dùng tay phải ném viên gạch về phía D và Ngh làm trúng vùng đầu của D, khiến D bất tỉnh và ngã từ trên xe mô tô xuống đường, vùng đầu D chảy máu. Đồng thời lúc này, Kh dùng tay phải cầm chổi vụt 01 cái về phía Ngh, Ngh giơ tay trái lên đỡ thì chiếc chổi trúng vào cổ tay trái của Ngh, còn H dùng tay trái đấm về phía Ngh nhưng không trúng. Sau đó, Ngh cùng bạn bè đưa D đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình để cấp cứu còn nhóm Lê Tuấn L đi về nhà.

Sau khi sự việc xảy ra ngày 28/9/2025, ông Nguyễn Văn C là bố đẻ anh Nguyễn Ngọc D đã đến Công an phường H trình báo sự việc D bị đánh gây thương tích tại khu vực ngõ 2, đường Ph, phố 3 Vân Giang, phường H làm tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương trái, vỡ xương thái dương trái. Căn cứ tài liệu điều tra, Công an phường H triệu tập các đối tượng có liên quan đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, Lê Tuấn L khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngày 10/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe đối với thương tích của anh Nguyễn Ngọc D. Tuy nhiên anh Nguyễn Ngọc D có đơn xin từ chối giám định thương tích. Ngày 14/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ban hành Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe qua hồ sơ đối với thương tích của Nguyễn Ngọc D.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 46/KLTgTHS - TTPY ngày 22/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 2008, là 14%; Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày tác động trực tiếp gây nên.’’

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT - VKS - KV1, ngày 09 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Tuấn L ra trước Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình để xét xử về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Lê Tuấn L từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 04/11/2025.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

(20,3 x 9,6 x 5) cm.

Tịch thu tiêu hủy: 01 viên gạch đỏ kích thước

+ Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Tuấn L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự để sung quỹ Nhà nước.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người bị hại là anh Nguyễn Ngọc D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Minh Kh, anh Vũ Huy H, anh Hồ Đức Ngh đồng thời còn được chứng minh qua kết luận giám định thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 05 giờ sáng ngày 28/9/2025 tại khu vực ngõ 2, đường Ph, phố 3 Vân Giang, phường H, tỉnh Ninh Bình, tuy không có mâu thuẫn từ trước nhưng Lê Tuấn L đã có hành vi vô cớ sử dụng 01 viên gạch đỏ ném trúng vùng đầu của anh Nguyễn Ngọc D gây thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 14% đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Điều 134. Tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácmà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gâynguy hại cho nhiều người;

……….

i) Có tính chất côn đồ;

………..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

………………

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Bị cáo Lê Tuấn L là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng viên gạch đỏ ném vào đầu anh D sẽ gây ra hậu quả thương tích cho anh D. Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước chỉ vì hiểu lầm mà bị cáo dùng viên gạch đỏ là hung khí nguy hiểm, có khả năng gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của người khác thể hiện tính côn đồ, hung hãn. Từ căn cứ trên thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình truy tố bị cáo Lê Tuấn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình đã khắc phục bồi thường thương tích cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo Lê Tuấn L được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra bị cáo Lê Tuấn L và gia đình đã bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Ngọc D, anh D đã nhận bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với thương tích của anh Hồ Đức Ngh trong quá trình xô xát bị Đặng Minh Kh gây ra, do thương tích nhẹ nên ngày 02/10/2025 anh Hồ Đức Ngh có đơn xin từ chối giám định thương tích, không có yêu cầu, đề nghị phải bồi thường; còn Vũ Huy H có hành vi sử dụng tay trái đấm 02 cái về hướng Hồ Đức Ngh nhưng không trúng, Ngh xác định không bị thương tích gì do H gây ra. Vì vậy không có căn cứ xử lý hình sự đối với Đặng Minh Kh và Vũ Huy H về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Công an phường H xử phạt hành chính đối với Kh về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo Điểm a, Khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định pháp luật.

Quá trình điều tra xác định, việc L sử dụng viên gạch đỏ gây thương tích cho D mang tính bộc phát, không có sự bàn bạc, phân công vai trò hay thống nhất ý chí từ trước với Vũ Huy H và Đặng Minh Kh, quá trình thực hiện hành vi phạm tội độc lập, không có sự xúi giục, giúp sức hoặc hỗ trợ từ H và Kh đồng thời Vũ Huy H và Đặng Minh Kh không tham gia thực hiện hành vi gây thương tích cho anh D, không bàn bạc hay biết trước việc L sử dụng hung khí. Do vậy Vũ Huy H và Đặng Minh Kh không đồng phạm với hành vi của Lê Tuấn L, không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do Lê Tuấn L gây ra.

Đối với Hồ Đức Ngh và Nguyễn Ngọc D, ngày 28/9/2025, Ngh điều khiển xe mô tô chở D ngồi sau mang theo 01 cây gậy dài khoảng 40cm. Quá trình điều tra xác định, khi di chuyển trên đường Đ gặp nhóm Lê Tuấn L nghĩ là bạn bè nên Ngh điều khiển xe mô tô đi theo nhóm L để gặp, không có hành vi đuổi đánh, hò hét chửi bới. Đối với 01 cây gậy dài khoảng 40cm mà Nguyễn Ngọc D cầm theo, quá trình điều tra xác định D khai nhận là “gậy tự sướng” không phải hung khí, sau khi xảy ra sự việc Ngh đã vứt bỏ trên đường, không nhớ vị trí, do vậy không có căn cứ để xác minh thu giữ. Vì vậy không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Hồ Đức Ngh và Nguyễn Ngọc D.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 viên gạch đỏ kích thước là (20,3 x 9,6 x 5) cm mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 01 cây chổi là hung khí mà Đặng Minh Kh sử dụng sau khi xảy ra sự việc đã vất tại hiện trường không thu hồi được. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Y, tuy nhiên bà Y xác định chiếc chổi đã cũ, không có giá trị nên không yêu cầu các đối tượng bồi thường. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[ 7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1/ Tuyên bố:

Bị cáo Lê Tuấn L phạm tội: Cố ý gây thương tích.

- Xử phạt bị cáo Lê Tuấn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 04/11/2025.

2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 viên gạch đỏ kích thước là (20,3 x 9,6 x 5) cm

Vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã chuyển cho Phòng Thi hành án dân sự khu vưc 1 - Ninh theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13 tháng 02 năm 2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Ninh Bình.

3/Về án phí:

Buộc bị cáo Lê Tuấn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ