vanban.org

Bản án 40/2026/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/01/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Anh T, giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, như sau:

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Anh T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Anh T, giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 40/2026/HS-PT
Ngày 19/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TÔI CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tiến;

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Nam;

Ông Nguyễn Xuân Điền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thùy Trang, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng G- Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 582/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Vũ Anh T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

* Bị cáo có kháng cáo: Vũ Anh T, sinh năm 2002 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà A, đường Y, tổ dân phố K, xã Y, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Vũ Ngọc V và bà Đỗ Thị M; vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không, Tiền sự: Ngày 13/5/2020, bị Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Luật sư Phạm Đức H - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 25/8/2024, vợ chồng ông V bà M, cùng vợ chồng con gái là chị M1, anh H1 cùng anh Phạm Văn C là hàng xóm, dọn dẹp chậu cây cảnh và cỏ ven đường trước nhà. Khi này, ông Vũ Đức H2 ngồi ở ghế đá cạnh mương trước nhà, còn vợ là bà Đặng Thị L, cầm theo liềm và cuốc đứng ở đường trước cửa nhà chuẩn bị đi làm đồng. Trong lúc dọn dẹp, chị M1 thấy có túi rác của nhà ông H2, bà L để ven đường lấn sang phía nhà ông V nên chị M1 đẩy túi rác trên về phía nhà ông H2. Đồng thời bà M nói “rác nhà mày đem về trước nhà mày để, đã bao nhiêu lần nói rồi”. Ông V chửi về phía vợ chồng ông H2. Thấy vậy, ông H2 đứng dậy nói “hôm nay thằng nào thích thì đến đánh đi”. Sau khi ông V nói, bà L 2 tay cầm chiếc cuốc ở phần cán (cán cuốc bằng gỗ màu vàng, hình trụ tròn đường kính 4 cm, chiều dài 140 cm, lưỡi cuốc làm bằng kim loại màu nâu, kích thước 18cm x13cm) lưỡi cuốc ngửa lên trên, vung lên đập 1 phát hướng từ phải sang trái trúng vào cánh tay trái bà M gây bầm tím, sưng tấy ở mặt ngoài cánh tay. Bị đánh, bà M lấy chiếc cuốc, cán bằng gỗ màu vàng, hình trụ tròn đường kính 3,5 cm, chiều dài 123 cm, lưỡi cuốc làm bằng kim loại màu nâu, kích thước (23x15)cm, đang để ở ven đường, dùng hai tay cầm cán cuốc, lưỡi cuốc nằm ngang vụt về phía ông H2 01 phát hướng từ trên xuống dưới. Ông H2 giơ tay trái lên đỡ thì lưỡi cuốc trúng vào ngón IV, bàn tay trái gây rách ra, chảy máu. Sau đó, bà M cầm cuốc đập 1 phát từ trên xuống dưới (lưỡi cuốc hướng lên trên) làm phần cán cuốc trúng vào mặt ngoài cánh tay phải của bà L gây bầm tím, lưỡi cuốc rơi xuống mặt đường. Lúc này ông V đi đến chân trái đá trúng lưỡi cuốc của bà M gây rách da, chảy máu ngón IV, V bàn chân trái.

Bị bà M đánh, ông H2 dùng tay phải đấm 1 phát trúng vào vùng mặt của bà M khiến bà M ngã nằm xuống đường. Bị ngã bà M cũng kéo ông H2 ngã ngồi xuống đường. Ông V thấy vợ bị đánh nên tiến đến vị trí ông H2 đang ngồi dùng tay phải đấm liên tiếp 2 phát hướng từ trên xuống trúng vào vùng mặt ông H2. Lúc này con trai của ông V, bà M là Vũ Anh T, nằm trong nhà nghe thấy tiếng đánh nhau nên đi ra. T nhìn thấy bà M bị ông H2 đánh và nhìn thấy chân trái của ông V chảy máu, T nghĩ vết thương của ông V do ông H2 đánh gây ra nên T lấy chiếc cán ô bằng kim loại, màu xanh, hình trụ tròn đường kính 3 cm, chiều dài 100 cm, 1 đầu gắn 1 thanh kim loại chữ V màu nâu, cạnh rộng 3 cm, chiều dài 25cm, 1 đầu gắn tai xoay kim loại, màu nâu, kích thước (5x1,5)cm đang để ở cửa cổng, T cầm cán ô đi đến đứng phía sau vị trí ông H2 đang ngồi lưng hơi ngả xuống đường, mặt hướng ra phía bờ mương, đầu hơi ngửa trán lên, T cầm cán ô bằng hai tay vụt 01 phát hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh đầu ông H2 khiến ông H2 bị chảy máu ở vùng đỉnh đầu, nằm xuống mặt đường. T tiếp tục giơ cán ô lên định tiếp tục vụt về phía ông H2 thì anh H1 và chị M1 can ngăn. T dừng tay và đi vào trong nhà. Sau khi ông H2 bị T đánh nằm ở đường, ông V quay lại, đứng bên ông H2 tiếp tục dùng tay phải đấm ông H2 1 phát hướng từ trên xuống trúng vào vùng bụng. Ông H2 không phản kháng gì nên ông V dừng lại.

Lúc này, bà M và bà L tiếp tục giằng co, đánh nhau, bà M giật lấy cuốc từ tay bà L khiến bà L ngã nằm sấp xuống đường và làm chiếc cuốc cũng bị rơi xuống đường. Bà M nhặt chiếc cuốc, cầm cuốc ở phần lưỡi đập phần cán cuốc hướng từ phải qua trái trúng vào vùng hông trái bà L khiến bà L bị bầm tím da vùng hông trái, bà M tiếp tục đập cán cuốc hướng từ trên xuống trúng vào nón bà L, không trúng đầu bà L. Bà L tay phải cầm liềm chém về phía bà M theo hướng từ trên xuống dưới nhưng không trúng. Sau đó, mọi người có mặt ở đó vào can ngăn nên 2 bên dừng đánh nhau. Bà L nhìn thấy ông H2 bị thương chảy máu vùng đầu, nằm ở đường nên ôm ông H2 và hô hoán để người dân xung quanh đến. Sau đó, bà L và người dân đưa ông H2 đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Y và chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để điều trị từ ngày 25/8/2024, đến ngày 11/9/2024 thì ra viện. Ông H2 bị thương tích vỡ xương đỉnh phải, vỡ xương trán, tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, chảy máu màng mềm não, rách da ngón tay áp út phải.

Bà Đỗ Thị M sau khi xảy ra sự việc đến Trung tâm y tế huyện Y điều trị với vết thương bầm tím vùng mắt trái, bầm tím vùng cánh tay trái từ ngày 25/8/2024, đến ngày 30/8/2024 thì ra viện. Ngày 23/10/2024, bà M tiếp tục điều trị tại Bệnh viện mắt tỉnh Ninh Bình đến ngày 28/10/2024 thì ra viện.

Bà Đặng Thị L sau khi bị đánh gây bầm tím vùng cánh tay phải không đi điều trị tại cơ sở y tế, tự điều trị tại nhà.

Ông Vũ Ngọc V bị thương rách da chảy máu ngón IV, V bàn chân trái đã đến trung tâm y tế huyện Y sơ cứu khâu vết thương sau đó về điều trị tại nhà.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra vụ án được xác định là tại đoạn đường trục bê tông trước cửa gia đình ông Vũ Ngọc V, sinh năm 1972, gia đình ông Vũ Đức H2, sinh năm 1977, gia đình ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987, thuộc tổ dân phố K, thị trấn Y, huyện Y (nay là tổ dân phố K, xã Y), tỉnh Ninh Bình.

Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường:

- 01 chiếc cuốc có cán gỗ màu vàng, hình trụ tròn đường kính 3,5cm, chiều dài 123cm, lưỡi cuốc kim loại màu nâu, kích thước (25x15)cm.

- 01 chiếc cuốc cán gỗ màu vàng, hình trụ tròn đường kính 4cm, chiều dài 140cm, lưỡi cuốc bằng kim loại màu nâu, kích thước (18x13)cm.

- 01 chiếc cán ô kim loại, màu xanh, hình trụ tròn đường kính 3cm, chiều dài 100cm, 01 đầu gắn 1 thanh kim loại chữ V màu nâu, cạnh rộng 3cm, chiều dài 25cm, một đầu gắn tai xoay kim loại, màu nâu, kích thước (5x1,5)cm.

- 01 chiếc liềm có chiều dài 28cm, cán gỗ hình trụ tròn màu nâu, đường kính 2,5cm, chiều dài 12cm, trên cán liềm ghi chữ “Lương”, lưỡi liềm bằng kim loại, hình vòng cung màu nâu đen, dây cung dài 26cm, phần rộng nhất 3cm.

- 01 (một) chiếc nón lá màu vàng hình chóp, đường kính đáy chóp 40 cm, chiều cao 20 cm, nón cũ, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc áo vải dài tay màu trắng, chiều dài 70 cm, chiều rộng 60 cm, trên áo có in nhiều họa tiết LV, có nhiều vết dị vật màu nâu, áo cũ, đã qua sử dụng.

* Kết quả trưng cầu giám định:

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 125/KLTTCT-TTPY, ngày 04/10/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Đức H2, sinh năm 1977, tại thời điểm giám định là: 43% (Bốn mươi ba phần trăm), được xác định theo phương pháp cộng của Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương do vật tày trực tiếp gây nên.

Ngày 09/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y gửi công văn số 391/CV-ĐTHS, đề nghị Trung tâm pháp y tỉnh N trả lời cụ thể tỷ lệ % tổn thương cơ thể của từng thương tích của ông Vũ Đức H2 tại thời điểm giám định. Ngày 10/10/2024, Trung tâm giám định pháp y tỉnh N ra văn bản số 009/2024/TL-TTPY, trả lời: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương từng thương tích” của ông Vũ Đức H2, sinh năm 1977, trú tại xã Y, tỉnh Ninh Bình. Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống 125/KLTTCT-TTPY, ngày 04/10/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh N.

- Sẹo vết thương vùng đỉnh: 01%;

- Sẹo vết thương ngón IV bàn tay trái: 01%;

- Vỡ xương đỉnh phải: 12%;

- Vỡ xương trán: 17%;

- Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái: 12%;

- Chảy máu màng mềm (Không còn trên chẩn đoán hình ảnh): 09%.

- Ngày 17/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 579/QĐ-ĐTHS, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Đỗ Thị M do đánh bị thương ngày 25/8/2024, nhưng bà M có đơn từ chối giám định. Thời gian sau đó, bà M thấy thị lực yếu nên ngày 23/10/2024, bà M đã đến Trung tâm y tế huyện Y khám, sau đó được chuyển tuyến đến điều trị tại Bệnh viện mắt tỉnh N từ ngày 23/10/2024 đến ngày 28/10/2024, thì ra viện. Ngày 31/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 676/QĐ-ĐTHS, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Đỗ Thị M do đánh bị thương ngày 25/8/2024. Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 136/KLTTCT-TTPY ngày 08/11/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh N, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Thị M, sinh năm 1976, tại thời điểm giám định là: 0,00% (Không phần trăm), không xác định cơ chế hình thành thương tích.

- Ngày 23/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y gửi công văn số 509, gửi Trung tâm pháp y tỉnh N đề nghị giải thích tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Đỗ Thị M, thời điểm giám định là 0,00%.

Tại công văn số 019/2024/TL-TTPY, của Trung tâm pháp y tỉnh N trả lời:

Việc không xác định “tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể” của bà Đỗ Thị M tại Bản kết luật giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 136, ngày 08/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N được dựa vào kết quả khám chuyên khoa mắt.

+ Giác mạc, kết mạc bình thường; Chứng tỏ kết mạc, giác mạc không có tổn thương do chấn thương trực tiếp gây nên.

+ Thủy tinh thể đục tiến triển, thoái hóa võng mạc. Đây là một bệnh lý tiến triển trậm dần dần theo thời gian, thường gặp đối với người trung, cao tuổi (bệnh lý người có tuổi) và hậu quả là giảm thì lực đều hai mắt. Kết quả tại thời điểm giám định thị lực M2; thị lực MT 6/10.

- Ngày 30/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định lại lần thứ nhất, trưng cầu V1 giám định lại tỷ lệ tổn hại % sức khỏe đối với bà Đỗ Thị M do bị đánh ngày 25/8/2025 gây nên. Tại Bản kết luận giám định số 11/2025, ngày 22/4/2025, của V1, kết luận:

- Phần mềm vùng mũi, mắt trái, tay trái hiện tại không có dấu vết thương tích. Vì vậy không có căn cứ để xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích.

- Đối với tình trạng giảm thị lực của hai mắt, trên người có tiền sử tăng huyết áp và tai biến mạch máu não, không có căn cứ để xác định có liên quan đến yếu tố chấn thương nên không xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích.

- Ngày 03/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 550, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh N, giám định tỷ lệ % tổn hại sức khỏe của bà Đặng Thị L, sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố K, thị trấn Y, huyện Y (nay là tổ dân phố K, xã Y), tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, bà Đặng Thị L đã có đơn từ chối giám định với lý do các vết thương do bà Đỗ Thị M gây nên là các vết thương bầm tím ngoài da, tự khỏi, bà L không phải đi điều trị tại cơ sở y tế. Bà Đặng Thị L không có yêu cầu, đề nghị gì.

* Đối với ông Vũ Ngọc V quá trình xô sát đã tự đá chân vào lưỡi cuốc của bà M (vợ ông V) sau khi bị thương đã đến Trung tâm y tế Y sơ cứu khâu vết thương sau đó điều trị tại nhà nên không yêu cầu đề nghị gì.

* Quá trình điều tra, thu giữ tại nhà anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố K, huyện Y (nay là tổ dân phố K, xã Y), tỉnh Ninh Bình 01 tệp tin video ghi nội dung liên quan đến vụ án. Ngày 12/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 568, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh N giám định kỹ thuật số và điện tử đối với 01 tệp tin video trên.

Tại Bản kết luận giám định số 937/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 21/11/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video gửi giám định. Trích xuất được 10 ảnh mô tả diễn biến liên quan đến vụ án trong tệp tin video gửi giám định.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án là ông Vũ Đức H2, sinh năm 1977, trú tại phố K, thị trấn Y (nay là tổ dân phố K, xã Y), tỉnh Ninh Bình yêu cầu Vũ A Thế bồi thường tiền khám, điều trị vết thương, tiền công người chăm sóc trong thời gian ông H2 nằm viện, tiền tổn thất về mặt sức khỏe sau này với tổng số tiền là 90.000.000 đồng. Quá trình điều tra ông H2 cung cấp các hóa đơn liên quan quá trình điều trị hết tổng số tiền là 15.606.669 đồng. Hiện gia đình bị can Vũ Anh T đã bồi thường cho ông Vũ Đức H2 số tiền 10.000.000 đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố K, xã Y, tỉnh Ninh Bình là mẹ của bị can Vũ Anh T, giao nộp: 01 bản sao chức thực Tổ Quốc Ghi Công liệt sỹ Đỗ Văn N (là ông ngoại bị can Vũ Anh T). 01 bản sao giấy chứng thực chứng nhận ông Vũ Ngọc K (ông nội bị can Vũ Anh T) được thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Những tài liệu này được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15, 38, 57 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T phạm tội “Giết người” (chưa đạt).

2. Xử phạt bị cáo Vũ Anh T 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024.

3. Buộc bị cáo Vũ Anh T phải bồi thường cho bị hại ông Vũ Đức H2 số tiền 80.154.696 đồng (Tám mươi triệu một trăm năm mươi tư nghìn sáu trăm chín mươi sáu đồng). Đối trừ số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại ông Vũ Đức H2 số tiền 70.154.696 đồng (Bảy mươi triệu một trăm năm mươi tư nghìn sáu trăm chín mươi sáu đồng).

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bị cáo Vũ Anh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 03/10/2025, bị cáo Vũ Anh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Vũ Anh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, giữ nguyên kháng cáo, giữ nguyên lời khai tại giai đoạn sơ thẩm. Đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa trình bày: Bị hại cũng có lỗi, khi thấy mẹ bị đánh nên đã không kiềm chế được, bị cáo bột phát, không kích động bố mẹ đánh nhau, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bồi thường 10.000.000 đ, hậu quả chết người chưa xảy ra. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ quy định của pháp luật. Luật sư bào chữa cho bị cáo có lúc không chấp hành nội quy phiên toà, cần nhắc nhở và kiến nghị đến đoàn Luật sư để nghiêm túc rút kinh nghiệm. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hình thức nội dung phù hợp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử có căn cứ khi xét xử bị cáo về tội Giết người theo điểm n khoản 1 điều 123 BLHS. Toà án cũng áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết mới. Hình phạt Toà án cấp sơ thẩm áp dụng với bị cáo đã phù hợp. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 BLTTHS. Bác kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo Vũ Anh T trong hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm: bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Anh T, Hội đồng xét xử thấy:

Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Anh T khai nhận hành vi của mình. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 25/8/2024, tại số nhà A, đường Y, tổ dân phố K, thị trấn Y, huyện Y tỉnh Ninh Bình (nay là tổ dân phố K, xã Y, tỉnh Ninh Bình). Khi Vũ A T đang nằm trong nhà, nghe thấy tiếng cãi chửi nhau, đánh nhau phía trước cửa nhà, T đi ra thì nhìn thấy mẹ là bà Đỗ Thị M đang giằng co với ông Vũ Đức H2, và nhìn thấy bố là ông Vũ Ngọc V chảy máu ở chân, T nghĩ là bố mẹ bị ông H2 đánh. Lúc này ông H2 đang ở trong tư thế ngồi đầu hơi ngửa lên, T đã lấy cán ô bằng kim loại đường kính 3 cm dài 100 cm vụt 01 phát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh đầu của ông H2 là vùng trọng yếu trên cơ thể con người gây vỡ xương đỉnh phải, vỡ xương trán, tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, chảy máu màng mềm não làm ông H2 tổn hại 43% sức khỏe. Khi Vũ Anh T định vụt phát thứ 02 thì được can ngăn; hậu quả chết người không xảy ra do được căn ngăn và cấp cứu kịp thời. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Anh T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết về nhân thân, tăng nặng giảm nhẹ: bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau, nhưng khi có xô sát giữa bố mẹ bị cáo và bị hại. Bị cáo không tìm hiểu ngọn ngành, không can ngăn mọi người lại dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn, tiếp tục phạm tội mới, thể hiện sự côn đồ. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Anh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo có ông ngoại là Liệt sĩ, ông nội là người có công với cách mạng; nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo một phần nhỏ do lỗi của bị hại. Toà án cấp sơ thẩm có căn cứ khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên Toà án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 15, Điều 57 BLHS là có căn cứ.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ A Thế là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, đe dọa đến tính mạng của bị hại; gây mất trật tự trị an địa phương. Toà án cấp sơ thẩm cũng áp dụng cho bị cáo tình tiết phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, và xét cho bị cáo mức án đầu khung hình phạt là đã phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới. Những ý kiến bào chữa xin giảm nhẹ của Luạt sư co bị cáo không có căn cứ để xem xét. Do đó không có căn cứ giảm nhẹ thêm hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị của vị đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về các vấn đề khác

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận bị cáo phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Anh T, giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, như sau:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15, 38, 57 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Vũ Anh T 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024.

2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ