- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Thanh B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2026/HNGĐ-ST Ngày 29 - 5 - 2026 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Sửu
Ông Nguyễn Đình Dương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2026/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1980; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 01 năm 2026 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh B kết hôn với nhau ngày 01/10/2003, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và việc đi đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình anh B ở thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn H, xã T, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống, thời gian đầu chị và anh B hạnh phúc; sau đó chị và anh B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh B thường xuyên uống rượu chè về đánh đập chị dẫn đến vợ chồng ngày càng mâu thuẫn. Chị và anh B đã ly thân nhau từ năm 2015 đến nay. Nay chị xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Về con chung: Chị và anh B có 03 con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/3/2004; Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 01/10/2008 và Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 07/3/2012. Đối với cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/3/2004 đã trưởng thành nên chị không đề nghị giải quyết. Ly hôn chị xin được nuôi cả hai cháu Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 01/10/2008; Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 07/3/2012 (hiện cả hai cháu đang ở cùng chị H) và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, vay nợ, công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Thanh B vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình giải quyết vụ án, anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án cùng bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn cung cấp; các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh B nhưng anh B đều không đến Tòa làm việc. Tòa án không thể tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cùng chính quyền địa phương tiến hành lấy lời khai của bà Lê Thị V, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Phú Thọ là mẹ đẻ của anh Nguyễn Thanh B. Bà V cho biết anh B hiện đi làm ăn xa, địa chỉ cụ thể của anh B bà không nắm được nhưng anh B vẫn thỉnh thoảng về địa phương và bà vẫn liên lạc với anh B qua điện thoại. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đều thông báo cho anh B nhưng anh B nói không về giải quyết được. Nay chị H xin ly hôn với anh B, bà đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, tài sản chung, vay nợ của anh B và chị H, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về kiểm sát tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng chị H đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Anh B là bị đơn không chấp hành đầy đủ, vắng mặt tại phiên tòa.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh B. Về con chung: Giao cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 01/10/2008 và cháu Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 07/3/2012 (còn cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/3/2004 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết); anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về chia tài sản, công sức, công nợ các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và phân chia nuôi con chung giữa chị và anh Nguyễn Thanh B. Bị đơn anh B hiện có hộ khẩu và cư trú tại thôn H, xã T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ và quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
[2] Về tố tụng: Đối với anh B quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Tại phiên tòa hôm nay, anh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B.
[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thanh B đăng ký kết hôn ngày 01/10/2003 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Trước khi kết hôn, chị H, anh B được tự do tìm hiểu, hôn nhân tự nguyện, tiến bộ vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H, anh B là tự nguyện, hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Xem xét hôn nhân giữa chị H, anh B thấy rằng cuộc sống chung vợ chồng giữa chị H và anh B có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân như chị H trình bày vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh B hay uống rượu chè về đánh đập chị dẫn đến vợ chồng ngày càng mâu thuẫn, chị và anh B đã sống ly thân nhau từ năm 2015 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, anh B mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không chấp hành. Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh B đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H xin ly hôn anh B là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình do đó cần được chấp nhận.
[4] Về nuôi con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự và giấy khai sinh thì vợ chồng chị H, anh B có 03 con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/3/2004; Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 01/10/2008 và Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 07/3/2012. Đối với cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 04/3/2004 đã trưởng thành nên chị H không đề nghị giải quyết. Ly hôn chị H xin được nuôi cả hai cháu Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 01/10/2008; Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 07/3/2012 (hiện cả hai cháu đang ở cùng chị H) và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án anh B không đến Tòa án làm việc, không thể hiện quan điểm về giải quyết vụ án. Xét thấy chị H hiện có chỗ ở, công việc ổn định do đó cần giao cháu T và cháu T1 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
[5] Về chia tài sản: Do đương sự không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét. Sau khi ly hôn, nếu các đương sự có đề nghị về tài sản thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh B.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 01/10/2008 và Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 07/3/2012 (hiện cả hai cháu đều đang ở cùng chị H) cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0001003 ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 11 - Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - - UBND xã Thái Hòa, tỉnh PT; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Trang |