vanban.org

Bản án 40/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lù Thị C được ly hôn với anh Là Văn C1.

Về con chung: Giao cháu Là Văn H, sinh ngày 07/02/2010 cho chị Lù Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền. Cháu Là Văn D, sinh ngày 05/12/2007 (đã trưởng thà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị Lù Thị C và anh Là Văn C1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lù Thị C được ly hôn với anh Là Văn C1.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2026/HNGĐ–ST
Ngày: 26–01–2026
V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hải, ông Lường Văn Duôi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tòng Văn Cách - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2025/TLST - HNGĐ ngày 27-11-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06-01-2026; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lù Thị C, sinh ngày 09/3/1988. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Bản B, xã QN, tỉnh Sơn La.

2. Bị đơn: Anh Là Văn C1, sinh ngày 01/01/1988. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Bản B, xã QN, tỉnh Sơn La. (Anh Là Văn C1 hiện đang chấp hành án tại Đội 8, nhà số 3 - Trại giam Phú Sơn 4, Cục C10, Bộ Công an; địa chỉ: xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lù Thị C trình bày:

Chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 11/8/2006 tại Ủy ban nhân dân xã CB, huyện QN, tỉnh Sơn La (Nay là xã QN, tỉnh Sơn La), kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, ngoài ra anh Là Văn C1 là người nghiện ma túy, chị C đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh C1 vẫn không từ bỏ được ma túy dẫn đến hôn nhân gia đình bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Là Văn C1 hiện đang chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4, Cục C10, Bộ Công an từ năm 2022 cho đến nay. Chị Lù Thị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Là Văn C1.

Về con chung: Chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 có 02 con chung: Cháu Là Văn D, sinh ngày 05/12/2007 và cháu Là Văn H, sinh ngày 07/02/2010.

Chị Lù Thị C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Là Văn D và cháu Là Văn H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lù Thị C không yêu cầu anh Là Văn C1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai bị đơn anh Là Văn C1 trình bày (Có xác nhận của Trại giam Phú Sơn 4):

Anh Là Văn C1 và chị Lù Thị C kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã CB, huyện QN, tỉnh Sơn La (Nay là xã QN, tỉnh Sơn La), kết hôn tự nguyện không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau không phát sinh mâu thuẫn. Hiện tại anh đang chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4, Cục C10, Bộ Công an. Nay chị Lù Thị C yêu cầu ly hôn, anh Là Văn C1 xác định tình cảm không còn, anh C1 nhất trí ly hôn với chị Lù Thị C.

Về con chung: Anh Là Văn C1 và chị Lù Thị C có 02 con chung: Cháu Là Văn D, sinh ngày 05/12/2007 và cháu Là Văn H, sinh ngày 07/02/2010. Anh C1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, điều kiện nuôi con và ý kiến của con chung tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 16/12/2025 xác định: Chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 11/8/2006 tại Ủy ban nhân dân xã CB, huyện QN, tỉnh Sơn La (Nay là xã QN, tỉnh Sơn La). Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không bên nào ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được. Hiện tại chị C và anh C1 đã sống ly thân từ lâu. Anh C1 hiện đang đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam Phú Sơn 4. Về con chung: chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 có 02 con chung là cháu Là Văn D, sinh ngày 05/12/2007 (cháu D đã trưởng thành và có khả năng lao động) và cháu Là Văn H, sinh ngày 07/02/2010. Hiện tại cháu H ở với chị C. Chị Lù Thị C có khả năng và điều kiện nuôi con.

Ý kiến của cháu Là Văn H, sinh ngày 07/02/2010 (Biên bản ghi ý kiến ngày 08/12/2025): Cháu Là Văn H có nguyện vọng muốn ở với chị Lù Thị C.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Lù Thị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị C giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đến thời điểm xét xử vụ án cháu Là Văn D đã trưởng thành nên chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Là Văn C1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Anh C1 giữ nguyên ý kiến như trình bày trong bản tự khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang chấp hành án tại Đội 24; Khu 4 - Trại giam Phú Sơn 4, Cục C10, Bộ Công an đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:

Về tình cảm: Xử cho chị Lù Thị C được ly hôn với anh Là Văn C1.

Về con chung: Giao cháu Là Văn H, sinh ngày 07/02/2010 cho chị Lù Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Cháu Là Văn D, sinh ngày 05/12/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Là Văn C1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lù Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lù Thị C yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Là Văn C1 có nơi trú tại bản B, xã QN, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2

- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Lù Thị C, bị đơn anh Là Văn C1 vắng mặt tại phiên tòa đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã CB, huyện QN, tỉnh Sơn La (Nay là xã QN, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, chị C và anh C1 là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, anh Là Văn C1 có tiếp xúc với tệ nạn ma túy, đã được chị C và gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng anh C1 vẫn không từ bỏ được ma túy dẫn đến hôn nhân gia đình bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Là Văn C1 hiện đang chấp hành án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Trại giam Phú Sơn 4, Cục C10, Bộ Công an. Chị Lù Thị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Là Văn C1. Anh Là Văn C1 nhất trí ly hôn với chị Lù Thị C.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, biên bản xác minh, bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị C và anh C1 không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Là Văn C1 là người nghiện ma túy, đã được chị C nhiều lần khuyên bảo nhưng anh C1 vẫn không từ bỏ được ma túy, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 đã sống ly thân nhau từ lâu.

Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị C và anh C1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lù Thị C ly hôn với anh Là Văn C1.

Về con chung: Chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 có 02 con chung là cháu Là Văn D, sinh ngày 05/12/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) và cháu Là Văn H, sinh ngày 07/02/2010. Hiện tại cháu H đang sống cùng chị Lù Thị C.

Chị Lù Thị C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Là Văn H; cháu Là Văn D đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, nên chị C không yêu cầu giải quyết.

Anh C1 có ý kiến là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của cháu Là Văn H có nguyện vọng muốn ở với chị Lù Thị C.

Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Là Văn C1 là đối tượng nghiện ma túy, hiện đang chấp hành án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Trại giam Phú Sơn 4, Cục C10, Bộ Công an, nên anh C1 không thể trực tiếp nuôi dưỡng con và không có điều kiện nuôi con. Ý kiến của cháu H có nguyện vọng muốn ở với chị Lù Thị C. Chị Lù Thị C có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Trong thời gian hai vợ chồng sống ly thân, anh C1 phải đi chấp hành án thì chị C là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con, chị C đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con về mọi mặt. Do đó cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, giao cháu Là Văn H cho chị Lù Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cháu Là Văn D đã trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, thu nhập để tự nuôi mình, không ai có yêu cầu gì, nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Là Văn C1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cháu Là Văn H do không ai yêu cầu.

Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lù Thị C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lù Thị C được ly hôn với anh Là Văn C1.

2. Về con chung: Giao cháu Là Văn H, sinh ngày 07/02/2010 cho chị Lù Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.

Cháu Là Văn D, sinh ngày 05/12/2007 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động), nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Là Văn C1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lù Thị C và anh Là Văn C1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án.

4. Về án phí: Chị Lù Thị C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La, theo biên lai thu số 0000797, ngày 27/11/2025.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lù Thị C, anh Là Văn C1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ