vanban.org

Bản án 40/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V đối với bị đơn bà Lâm Thị N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản Buộc bà Lâm Thị N có nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị Hương V số tổng tiền 157.708.333 đồng (Một trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm lẽ tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Hương V - Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:40/2026/DS-ST
Ngày 30 – 3 - 2026
V/v “Tranh hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐỒNG NAI, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Quốc Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thanh Hương

2. Ông Lê Đức Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Trần Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 185/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025, về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/QĐXXST -DS ngày 29 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2026/QĐST- DS ngày 16 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hương V, sinh năm 2000, vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 1, ấp Q, xã T, tỉnh N

- Bị đơn: Bà Lâm Thị N, sinh năm 1995, vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 1, thôn B, xã T, tỉnh N

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm B, sinh năm 1988, vắng mặt

Địa chỉ: Ấp 1A, xã M, tỉnh N

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V và người đại diện theo uỷ quyền bà Phạm Phạm Thị Cẩm B thống nhất trình bày: Do có quen biết với nhau nên vào ngày 05/4/2025 nên bà Nguyễn Thị Hương V có bà Lâm Thị N vay số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Hai bên có làm giấy vay tiền, hẹn đến ngày 10/12/2025 hoặc có thể trước thời hạn nhưng phải thông báo trước cho bà N một thời gian hợp lý. Hai bên không thỏa thuận lãi suất. Đến thời gian gần đây do cần tiền để giải quyết công việc gia đình nên tôi có nói với chị N hoàn trả số tiền đã vay nói trên cho tôi nhưng chị N lây lý do khó khăn nên không chịu trả. Tôi cũng đã làm văn bản thông báo về việc không đồng ý cho chị N tiếp tục vay tiền nhưng chị N không có động thái nào để trả nợ cho bà V. Vì vậy, bà V làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai giải quyết buộc bị đơn bà Lâm Thị N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Về yêu cầu lãi suất: Trong đơn khởi kiện bà V yêu cầu bà Lâm Thị N phải trả lãi suất là 1%/tháng tính từ ngày khởi kiện cho đến khi chị N trả hết số tiền nói trên cho bà V. Qúa trình giải quyết vụ án phía đại diện theo yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm B yêu cầu tính lãi suất từ ngày phía bị đơn bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ (ngày 15/8/2025 chị V có thông báo trả nợ sớm cho chị N thời gian 10 ngày kể từ ngày ra thông báo (tức là ngày 25/8/2025). Vì vậy phía nguyên đơn yêu cầu tính lãi như sau: yêu cầu tính lãi suất là 10%/năm tính từ ngày 25/8/2025 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

- Bị đơn bà Lâm Thị N: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về việc thụ lý vụ, thông báo về việc tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tuy nhiên bà N không có lời khai và vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về tổ tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên tòà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Hương V khởi kiện yêu cầu bà Lâm Thị N trả số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) còn nợ theo hợp đồng vay tiền ngày 05/4/2025. Bà N đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng bà N không có ý kiến phản bác, cũng không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hương V về việc buộc bà Lâm Thị N có nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị Hương V tổng số tiền 157.708.333 đồng. Trong đó tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng; Tiền nợ lãi là 7.708.333 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Hương V khởi kiện bà Lâm Thị N để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lâm Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Hương V số tiền gốc đã vay là 150.000.000 đồng và phải chịu lãi suất theo quy định pháp luật. Bà Lâm Thị N có nơi cư trú tại xã Tân Khai, tỉnh Đồng Nai nên đây là vụ án tranh chấp “ Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa bị đơn bà Lâm Thị N đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V đối với giao dịch vay tài sản giữa bà bà Nguyễn Thị Hương V và bà Lâm Thị N xác định: Ngày 05 tháng 4 năm 2025 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V và bị đơn bà Lâm Thị N, sinh năm 1995, địa chỉ: Tổ 1, thôn B, xã T, tỉnh N đã thỏa thuận lại số nợ theo đó bà N nợ của bà V số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Việc thỏa thuận vay được hai bên lập bằng giấy vay tiền và cam kết trả nợ có chữ ký và chữ viết của bà Lâm Thị N. Hai bên thỏa thuận phương thức trả nợ hoàn trả đủ số tiền nợ gốc và thời gian trả nợ vào ngày 10/12/2025. Bên cho vay có thể yêu cầu trả tiền sớm hơn nhưng phải báo trước. Việc báo trước đã được phía nguyên đơn ra thông báo trả nợ trong thời hạn 10 ngày kể từ 15/8/2025. Hết thời hạn 10 ngày phía bị đơn bà N không trả nợ nên nguyên đơn bà V đã làm đơn khởi kiện. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ phía bị đơn bà N chưa trả nợ cho nguyên đơn bà V như đã cam kết. Vì vậy nguyên đơn bà V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà bị đơn bà N trả một lần số tiền nợ còn lại là 150.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu trả nợ gốc của nguyên đơn: Việc thỏa thuận giao dịch vay tiền được nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V và bị đơn bà Lâm Thị N lập bằng văn bản được bên vay ký và ghi rõ họ tên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Khi một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối tài liệu chứng cứ mà bên đương sự kia đưa ra thì đương sự đưa ra chứng cứ không phải chứng minh. Trong vụ án này, bà Lâm Thị N đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng, biết được các yêu cầu, các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và bà N không có ý kiến phản đối. Như vậy giấy vay tiền và cam kết trả nợ ngày 05/4/2025 được công nhận là chứng cứ, là cơ sở xác định hợp đồng vay tài sản giữa bà V và bà N là có thật và có giá trị để xác định quyên và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Hai bên thỏa thuận phương thức trả nợ hoàn trả đủ số tiền nợ gốc và thời gian trả nợ vào ngày 10/12/2025. Bên cho vay có thể yêu cầu trả tiền sớm hơn nhưng phải báo trước. Việc báo trước đã được phía nguyên đơn ra thông báo trả nợ trong thời hạn 10 ngày kể từ 15/8/2025. Bà Lâm Thị N đã vi phạm thời hạn trả nợ theo thỏa thuận nên bà V Khởi kiện yêu cầu bà N trả lại số tiền 150.00.0000 đồng là có căn cứ, phu hợp quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với phần yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn: Qúa trình giải quyết vụ phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Lâm Thị N phải chịu tiền lãi suất theo quy định pháp luật 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tính từ thời điểm phía bị đơn bà Lâm Thị N vi phạm nghĩa vụ trả nợ 25/8/2025 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Yêu cầu tính lãi suất của phía nguyên đơn đối với bị đơn phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do hiện nay phía bị đơn bà Lâm Thị N chưa thanh toán lãi suất từ 25/8/2025 đến ngày xét xử ngày 10/02/2026 là 05 tháng 15 ngày với mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 với số tiền gốc 150.000.000 đồng. Số tiền lãi bị đơn bà Lâm Thị N phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V từ ngày 13/11/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 29/09/2025 là 05 tháng 15 ngày là 150.000.000 đồng x 06 tháng 05 ngày x 10% bằng số tiền 7.708.333 đồng

Từ những phân tích tại mục [3], mục [4] cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị HươngV để buộc bà Lâm Thị N có nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị Hương V tổng số tiền 7.708.333 đồng. Trong đó tiền gốc là 150.000.000 đồng và tiền lãi nợ lãi là 7.708.333 đồng. Tổng số tiền bà N có nghĩa vụ trả cho bà V là 157.708.333 đồng (Một trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm lẽ tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng)

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

Án phí dân sự: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Lâm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bằng số tiền 7.885.416 đồng Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Nai hoàn trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V số tiền tạm ứng án phí 3.750.000 đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002509 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 92, Điều 93, Điều 147; Điểu 227; Điều 228; khoản 2 Điều 244, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hương V đối với bị đơn bà Lâm Thị N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản

2. Buộc bà Lâm Thị N có nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị Hương V số tổng tiền 157.708.333 đồng (Một trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm lẽ tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Trong đó tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng); Tiền nợ lãi 7.708.333 đồng (bảy triệu bảy trăm lẽ tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Bị đơn bà Lâm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.843.750 đồng (Bảy triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng). Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Nai trả lại cho bà Nguyễn Thị Hương V số tiền tạm ứng án phí 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002509 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn văng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bán ăn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoạc ngày ban an được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ