- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thu H - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40 /2025/HSST Ngày: 17 / 11 / 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Nguyên và ông Bùi Thanh Nhiến
Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12–Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Lê Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với:
Bị cáo Trần Thị Thu H, giới tính: Nữ; sinh ngày 09/8/1992 tại Phú Thọ; CCCD số: 017180002257; nơi đăng kí HKTT: Tổ 6, (phường T, thành phố H cũ), phường H, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở: Tổ 14, (phường H, thành phố Hcũ), phường H, tỉnh Phú Thọ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Trần Hữu P và bà Bùi Lan H; Có chồng là Đoàn Gia Bách và 01 con (10 tuổi).
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 28/6/2025 đến 22/7/2025, hiện tại ngoại. Có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; trú tại: Tổ 08, (phường Hữu Nghị, Tp Hòa Bình cũ), phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Trọng T – Luật sư thuộc Công ty Luật hợp danh Đại An Phúc, Đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bùi Lan H, sinh năm 1971, trú tại: Tổ 14, (phường Hữu Nghị, thành phố Hoà Bình cũ), phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Thu H là công nhân lao động xuất khẩu tại Nhật Bản, ngày 30/5/2025, H về nhà thì được mẹ là Bùi Thị H nói cho biết việc bố của H là ông Trần Hữu Phán có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị H. Do bức xúc nên ngày 06/6/2025, H đã bảo mẹ đẻ đưa đi gặp chị H tại khu đô thị Zenvilla để nói chuyện nhưng chủ yếu là xem mặt. Khi gặp, H và chị H ngồi nói chuyện riêng về mối quan hệ giữa chị H và ông Phán và yêu cầu chị H chấm dứt mối quan hệ.
Đến ngày 08/6/2025, do vẫn bức xúc H đã dùng số điện 0833908192 của mình gọi cho chị H qua số 0374806477, yêu cầu chị H muốn xong chuyện thì phải chuyển cho H 50 triệu đồng, nếu không H sẽ đến gặp chồng chị H để giải quyết. Đến ngày 12/6/2025, do lo sợ việc H đến trường và gặp chồng mình để nói chuyện gây ảnh hưởng đến công việc và gia đình nên chị H đã chuyển cho H 14 triệu đồng từ số tài khoản 455100001052504 của chị tại Ngân hàng BIDV tới số tài khoản 0833908192 của H tại Ngân hàng Vietinbank. Số tiền này H đã chi tiêu hết.
Đến ngày 16/6/2025, H tiếp tục gọi điện và nhắn tin cho chị H đe doạ, yêu cầu chuyển nốt số tiền 36 triệu đồng, nhưng chưa có tiền và sợ lời đe doạ của H nên ngày 27/6/2025 chị H đã ra cơ quan công an trình báo. Ngày 28/6/2025, H đến cơ quan công an đầu thú.
Cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 24/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ truy tố Trần Thị Thu H về tội Cưỡng đoạt tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm d khoản 2 điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điều 38, điều 65, điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 BLTTHS để xử phạt Trần Thị Thu H 36 tháng tù, cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản; đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo; về trách nhiệm dân sự: bị cáo và gia đình đã thỏa thuận và bồi thường đầy đủ, nay không ai đề nghị gì nên không đề cập.
Bị cáo không có tranh luận, bào chữa
Luật sư Trí trình bày quan điểm, nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu được và những chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở xác định: từ ngày 08/6/2025 đến ngày 16/6/2025, Trần Thị Thu H có hành vi đe dọa sẽ tố cáo việc chị H có quan hệ bất chính với bố đẻ của bị cáo đến nơi công tác cũng như với chồng của bị hại, uy hiếp tinh thần của chị H nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 50 triệu đồng, thực tế ngày 12/6/2025, chị H đã chuyển cho H chiếm đoạt số tiền 14.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản và đe dọa xâm phạm đến danh dự của người khác được pháp luật bảo vệ.
Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc dùng thủ đọan uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật và muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên vẫn cố tình thực hiện.
Mặc dù số tiền bị cáo mới nhận của bị hại là 14 triệu đồng nhưng mục đích của bị cáo khi đe doạ bị hại là nhằm chiếm đoạt 50 triệu đồng do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền 50 triệu đồng. Hành vi của bị cáo thoả mãn dấu hiệu của tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 170 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có mẹ đẻ là người có thành tích trong công tác. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt.
Đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo:
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần có mức hình phạt tù tương xứng để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chung.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Bị cáo và gia đình đã thỏa thuận và bồi thường xong cho Bị hại, nay không ai có yêu cầu đề nghị gì thêm nên Tòa không xem xét giải quyết.
Đối với chiếc điện thoại được bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
Đối với bà Bùi Lan H là mẹ của bị cáo, quá trình điều tra không xác định được việc ngày 08/6/2025, bà H có bàn bạc với bị cáo, không biết việc H gọi điện đe doạ yêu cầu chị H chuyển 50 triệu đồng, sau khi biết việc bà H đã can ngăn bị cáo dừng lại, cơ quan điều tra không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm do đó Tòa không giải quyết trong vụ án này.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm d khoản 2 điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điều 38, điều 65, điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.
1. Tuyên bố Trần Thị Thu H phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.
Xử phạt Trần Thị Thu H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, 17/11/2025.
Giao bị cáo Trần Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa pH trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7Plus thu giữ của Trần Thị Thu H.
(vật chứng trên hiện lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 12 – Phú Thọ có đặc điểm như Biên bản giao nhận số 06/BB-GNVC ngày 14/1/2025.
3. Về án phí: Bị cáo Trần Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được cấp, tống đạt hợp lệ bản án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh PT;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh PT;
- VKSND khu vực 12-PT;
- Phòng PV 06 CA tỉnh PT;
- CQ THA HS – CA tỉnh PT;
- THA DS tỉnh PT;
- UBND phường Hoà Bình;
- Bị cáo;
Nghiêm Hoài Anh
- Lưu HS; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - VKSND tỉnh HB; - VKSND thành phố HB; - Công an thành phố HB; - Thi hành án hình sự TPHB; - Chi cục THA DS TPHB; - Sở Tư pháp tỉnh HB; - Bị cáo; - UBND P. Đồng Tiến, Tp HB; - Lưu HS; TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI BẢN ÁN 282/2020/HS-PT NGÀY 16/06/2020 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh H, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 792/2019/TLPT ngày 04 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2019/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh H. * Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn A, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh H; nghề nghiệp: Cộng tác viên báo chí; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn K và bà Hà Thị H; có vợ là Lê Thị T và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng kể từ ngày 05/4/2019; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2019. Có mặt tại phiên tòa. * Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn M - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08h45’ ngày 26/3/2019, tại vỉa hè Đường L (đoạn trước khách sạn C) phường Đ, thành phố H; tổ công tác Phòng PC02 Công an tỉnh H bắt quả tang Nguyễn Văn A về hành vi dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần anh Phạm Văn B để chiếm đoạt số tiền 50.000.000đ, thu giữ vật chứng là số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và các đồ vật, tài liệu khác có liên quan. Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Nguyễn Văn A tốt nghiệp Học viện báo chí và tuyên truyền, chuyên ngành báo ảnh, hệ chính quy tập trung. Khoảng tháng 02/2019, thông qua mối quan hệ xã hội, Nguyễn Văn A được giới thiệu đến anh Trần Ngọc C là nhà báo, Trưởng đại diện khu vực của Báo N - Báo điện tử V. A và C thống nhất A sẽ là người cộng tác, cung cấp tin bài liên quan đến các lĩnh vực xã hội, pháp luật trên địa bàn tỉnh H gửi cho C qua điện thoại, thư điện tử. C chỉnh sửa nội dung, chính tả trình Ban biên tập đăng bài với bút danh L - Hà A. Do có mâu thuẫn trong việc vay nợ tiền nên tối ngày 02/3/2019, tại quán cà phê, Phạm Văn B đã đánh anh Nguyễn Văn Q ở xóm 3, xã Nga Mỹ, huyện S, H, gây tH tích mất 22% sức khỏe. Mặc dù, vụ việc đang được Công an huyện S thụ lý giải quyết, nhưng anhQ vẫn chủ động liên hệ với Nguyễn Văn A, nhờ A viết bài về việc anh B đánhQ nhằm tạo dư luận để cơ quan chức năng phải nhanh chóng xử lý nghiêm, đồng thời gây sức ép với anh B phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thỏa đáng cho Q. Nguyễn Văn A nhận lời giúpQ và thông quaQ thu thập các thông tin về sự việc cũng như hoạt động làm ăn cầm đồ, cho vay của Phạm Văn B để viết bài. Theo đó, A thu thập thông tin và gửi nội dung bài viết thông qua điện thoại, thư điện tử Gmail cho anh Trần Ngọc C là nhà báo, là Trưởng đại diện khu vực của báo N - điện tử V để anh C chỉnh sửa nội dung, chính tả và đề nghị Ban biên tập cho đăng bài trên báo điện tử V với bút danh L - Hà A. Trong tháng 3/2019, báo điện tử V đã đăng loạt 04 bài với nội dung liên quan đến sự việc anh B đánh anhQ và hoạt động cầm đồ, cho vay của Công ty P tại S, H. Ngày 09, 10/3/2019, Phạm Văn B đọc được bài viết do báo điện tử V đăng tải với tít đề: “H: Vụ Cty “Bốc bát họ” đánh người trước mặt lãnh đạo huyện” và nhiều bài báo có liên quan do tác giả L - Hà A viết về việc Phạm Văn B đánh người mà theo anh B là có nhiều tình tiết không đúng sự thật. Đồng thời, A gửi đường link các bài trên báo V với nội dung nêu trên cho anh B qua mạng xã hội Zalo. Sau đó A gọi điện thoại xưng danh nhà báo “Hà A” là phóng viên của báo V. A ngỏ ý muốn gặp anh B nhằm đánh tiếng, nhắc nhở cho B biết nhà báo đã vào cuộc, nếu không tìm cách lo liệu thì sẽ tiếp tục đăng bài, nhưng anh B bức xúc vì một số nội dung đăng tải không đúng sự thật nên đã từ chối gặp. Tuy nhiên, anh B cũng bắt đầu lo sợ việc các bài viết trên sẽ gây ảnh hưởng đến công việc làm ăn và bản thân mình nên đã gặp anhQ để xin lỗi, thỏa thuận đền bù thiệt hại cho anhQ với mong muốn anhQ viết đơn bãi nại. Sau mỗi lần anh B gặp gỡ anhQ thì anhQ đều báo lại cho A, đồng thờiQ dặn anh B không nên thách thức vì A là nhà báo đang viết nhiều bài về B và có vẻ bực tức với thái độ của B. AnhQ nhắn tin số điện thoại của A cho anh B và nói B phải liên lạc với nhà báo A để lo liệu giải quyết sự việc nếu không sẽ tiếp tục bị đăng bài. Do lo sợ sự việc gây tH tích cho anhQ tiếp tục bị báo đưa tin bài gây dư luận thì anhQ sẽ không viết đơn bãi nại, B sẽ bị khởi tố, xử lý hình sự và ảnh hưởng đến uy tín cũng như việc làm ăn của mình nên anh B đã liên lạc với A để xin lỗi và mong muốn được giải quyết êm thấm. Biết anh B đã lo sợ, từ đó A sử dụng số điện thoại của A là 0941322241 liên tục nhắn tin đe dọa, gọi điện thoại cho anh B qua SĐT 0336161626 ép anh B phải nhanh đi gặp C là “sếp” của A để xin tha và biếu quà (tiền mặt) thì sự việc mới êm xuôi. Ngày 23/3/2019, anh B và anhQ đã thỏa thuận xong việc bồi thường dân sự với số tiền là 130.000.000đ, anhQ đã có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với B. Nguyễn Văn A biết được việc đó nên nhắn tin cho anh B với nội dung đe dọa rằng mặc dù anhQ có đơn bãi nại, nhưng nếu B không gặp A để lo liệu thì sự việc vẫn bị xử lý hình sự bình thường. Đồng thời, A tiếp tục nâng tầm quan trọng của C rằng: C là người quyết định mọi việc, kể cả từ phía Công an, còn Nguyễn Văn Q chỉ là người bị chỉ đạo, nghe theo nên chỉ có A và C mới quyết định được. Ngày 21/3/2019, A điện thoại hẹn gặp anh B tại quán cà phê Tequila (cạnh siêu thị điện máy Trần Anh, thành phố H) để nói chuyện và uy hiếp tinh thần anh B, yêu cầu B phải gọi điện và liên lạc xin gặp C là “sếp” của A ở Hà Nội để xin lỗi, quà cáp cho C thì sự việc mới xong xuôi. A đưa số điện thoại của C là 0906103135 để B chủ động liên lạc. Sau đó, thông qua liên lạc bằng điện thoại và tin nhắn zalo, A yêu cầu B phải đi một mình mang tiền ra Hà Nội để gặp C tại tầng 72 tòa nhà Keangnam, nếu không C sẽ cho đăng bài tiếp. Ngày 24/3/2019, anh B lấy lý do bà ốm không ra Hà Nội gặp C được và gọi điện thoại hẹn gặp A tại thành phố H (quán nước 66 TĐ). Tại đây, A tiếp tục đe dọa và bắt anh B phải gặp C bằng được để xin không đăng bài và phải có “quà” (ý nói đưa tiền cho C). Anh Phạm Văn B xin gửi 10 triệu đồng cho A thì A chê ít không nhận. Thấy vậy, anh B nâng số tiền lên 20 triệu đồng thì A nói “không quyết được”. Tối ngày 25/3/2019, A gọi điện cho anh B yêu cầu B phải đưa số tiền 50.000.000đ cho A thì sẽ giải quyết công việc, A sẽ ra Hà Nội xin “sếp” C không đăng bài liên quan đến anh B nữa. Hai bên thống nhất sáng sớm hôm sau (tức ngày 26/3/2019) sẽ gặp nhau tại thành phố H để giao nhận số tiền trên (BL 125). Do quá lo sợ trước sự uy hiếp tinh thần của A nên anh B đã báo cáo toàn bộ nội dung sự việc đến Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh H. Toàn bộ nội dung nhắn tin giữa A và B cũng như ghi âm cuộc nói chuyện điện thoại A yêu cầu B phải đưa số tiền 50 triệu đồng đã được anh B lưu giữ và giao nộp cho Cơ quan Công an. Khoảng 08h30’ ngày 26/3/2019, anh B và A gặp nhau ở đường đường L, đoạn đối diện khách sạn C, phường Đ, thành phố H, tỉnh H. Hồi 08h45’ cùng ngày, ngay sau khi A vừa nhận của anh B số tiền 50.000.000 đồng thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh H bắt quả tang, thu giữ vật chứng là số tiền 50.000.000đ và các đồ vật tài liệu khác liên quan. Sau khi thu thập tài liệu, chứng cứ, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh H đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam đối với Nguyễn Văn A về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, nick Zalo “Tan” đăng ký với SĐT 0944016280 nhắn tin (các thông tin liên quan đến việc B đánh anhQ, việc bồi thường thiệt hại, về vai trò của A và C...) với anh Nguyễn Văn Q (SĐT 0944346661) và anh Phạm Văn B (SĐT 0336161626) với các tên khác nhau. Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn A về vai trò của Trần Ngọc C là người chỉ đạo A làm việc trực tiếp với B, uy hiếp tinh thần buộc anh B phải đưa số tiền 50 triệu đồng. Cơ quan CSĐT đã xác minh nhân thân, tư cách báo chí của anh Trần Ngọc C tại báo N - báo điện tử V và triệu tập Trần Ngọc C để làm việc. Quá trình làm việc, anh C khai báo có mối quan hệ trong công việc với A và A là người cung cấp tin bài về vụ việc ở S cho C để chỉnh sửa, biên tập và đăng bài với bút danh L - Hà A, nhưng C phủ nhận việc chỉ đạo hoặc có liên quan đến việc A chiếm đoạt tiền của anh B (BL 207- 210). Tiến hành đối chất giữa A và C không giải quyết được mâu thuẫn. Quá trình điều tra, A và C đều phủ nhận việc sử dụng SĐT 0944016280 và nick Zalo “Tan”. C khai báo chỉ sử dụng 02 số điện thoại là: 0906103135 và 0968560508. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra để làm rõ Trần Ngọc C có liên quan trong vụ án này hay không. Tuy nhiên, tài liệu điều tra xét thấy chưa có tài liệu xác định C là người chỉ đạo A cưỡng đoạt tiền của anh B ngoài lời khai của bị can A. Do vậy, không đủ căn cứ chứng minh C đồng phạm với A. Cơ quan CSĐT đã triệu tập Nguyễn Văn Q để đấu tranh, làm rõ các tình tiết có liên quan, xác định hành vi củaQ có dấu hiệu giúp sức cho Nguyễn Văn A chiếm đoạt tiền của anh B, nhưngQ không biết cụ thể số tiền mà A chiếm đoạt được cũng như không được hứa hẹn ăn chia để được hưởng lợi từ số tiền này, không có mục đích cùng với A thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản đối với anh B. Do vậy, không đủ căn cứ chứng minhQ đồng phạm với A. Do có hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-P2 ngày 26/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H đã truy tố Nguyễn Văn A về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2019/HSST ngày 23/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh H đã quyết định: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 47, 48, 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn A 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2019. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định. Ngày 17/9/2019, bị cáo Nguyễn Văn A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 13/12/2019, người bị hại Phạm Văn B có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn A giữ nguyên kháng cáo. Trợ giúp viên pháp lý Lê Văn M trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo với đề nghị: Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, đã ăn năn hối cải. Người bị hại là anh Phạm Văn B đã có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết mới tại cấp phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội; xử phạt bị cáo 30 tháng tù là dưới mức khởi điểm của khung hình phạt, nên không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cũng như cho bị cáo hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm. NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa, Nguyễn Văn A khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn A, với tư cách là cộng tác viên, cung cấp tin bài cho báo N, báo Điện tử V, đã lợi dụng việc Nguyễn Văn Q nhờ viết bài báo về vấn đềQ bị anh Phạm Văn B đánh gây tH tích, A đã nhiều lần nhắn tin đưa thông tin sai lệch, đe dọa, uy hiếp tinh thần anh B để anh B đưa bị cáo số tiền 50.000.000 đồng. Từ việc làm này của A, anh B đã lo sợ việc bị báo chí đưa thông tin nếu sai lệch làm ảnh hưởng đến công việc làm ăn kinh doanh nên anh B đã chấp nhận gặp A và đưa 50.000.000 đồng cho A. Ngày 26/3/2019, A đang nhận số tiền 50.000.000 đồng từ anh B thì bị lực lượng Công an tỉnh H bắt quả tang. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Nguyễn Văn A về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. [2] Xét kháng cáo của Nguyễn Văn A về quyết định hình phạt: Khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự quy định: Phạm tội thuộc trường hợp … d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. - Về tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, quá trình tố tụng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân đã có thời gian tham gia quân đội và được tặng thưởng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến”, bố bị cáo là người có thành tích trong quân đội được Nhà nước khen thưởng nhiều huân, huy cH. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm, người bị hại là anh Phạm Văn B có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Bản án sơ thẩm đã vận dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 30 tháng tù là dưới mức khởi kiểm của khung hình phạt, mức án trên đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn A. [3] Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Căn cứ vào khoản 2 Điều 344, Điều 345, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; 1. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn A. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2019/HS-ST ngày 23/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh H về hình phạt đối với Nguyễn Văn A như sau: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 47, 48, 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn A 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2019. 2. Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nghiêm Hoài Anh |