vanban.org

Bản án 40/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ

phí Tòa án; Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn A. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thu H - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40 /2025/HSST
Ngày: 17 / 11 / 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Nguyên và ông Bùi Thanh Nhiến

Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12–Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Lê Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với:

Bị cáo Trần Thị Thu H, giới tính: Nữ; sinh ngày 09/8/1992 tại Phú Thọ; CCCD số: 017180002257; nơi đăng kí HKTT: Tổ 6, (phường T, thành phố H cũ), phường H, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở: Tổ 14, (phường H, thành phố Hcũ), phường H, tỉnh Phú Thọ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Trần Hữu P và bà Bùi Lan H; Có chồng là Đoàn Gia Bách và 01 con (10 tuổi).

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 28/6/2025 đến 22/7/2025, hiện tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; trú tại: Tổ 08, (phường Hữu Nghị, Tp Hòa Bình cũ), phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Trọng T – Luật sư thuộc Công ty Luật hợp danh Đại An Phúc, Đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bùi Lan H, sinh năm 1971, trú tại: Tổ 14, (phường Hữu Nghị, thành phố Hoà Bình cũ), phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị Thu H là công nhân lao động xuất khẩu tại Nhật Bản, ngày 30/5/2025, H về nhà thì được mẹ là Bùi Thị H nói cho biết việc bố của H là ông Trần Hữu Phán có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị H. Do bức xúc nên ngày 06/6/2025, H đã bảo mẹ đẻ đưa đi gặp chị H tại khu đô thị Zenvilla để nói chuyện nhưng chủ yếu là xem mặt. Khi gặp, H và chị H ngồi nói chuyện riêng về mối quan hệ giữa chị H và ông Phán và yêu cầu chị H chấm dứt mối quan hệ.

Đến ngày 08/6/2025, do vẫn bức xúc H đã dùng số điện 0833908192 của mình gọi cho chị H qua số 0374806477, yêu cầu chị H muốn xong chuyện thì phải chuyển cho H 50 triệu đồng, nếu không H sẽ đến gặp chồng chị H để giải quyết. Đến ngày 12/6/2025, do lo sợ việc H đến trường và gặp chồng mình để nói chuyện gây ảnh hưởng đến công việc và gia đình nên chị H đã chuyển cho H 14 triệu đồng từ số tài khoản 455100001052504 của chị tại Ngân hàng BIDV tới số tài khoản 0833908192 của H tại Ngân hàng Vietinbank. Số tiền này H đã chi tiêu hết.

Đến ngày 16/6/2025, H tiếp tục gọi điện và nhắn tin cho chị H đe doạ, yêu cầu chuyển nốt số tiền 36 triệu đồng, nhưng chưa có tiền và sợ lời đe doạ của H nên ngày 27/6/2025 chị H đã ra cơ quan công an trình báo. Ngày 28/6/2025, H đến cơ quan công an đầu thú.

Cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 24/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ truy tố Trần Thị Thu H về tội Cưỡng đoạt tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm d khoản 2 điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điều 38, điều 65, điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 BLTTHS để xử phạt Trần Thị Thu H 36 tháng tù, cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản; đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo; về trách nhiệm dân sự: bị cáo và gia đình đã thỏa thuận và bồi thường đầy đủ, nay không ai đề nghị gì nên không đề cập.

Bị cáo không có tranh luận, bào chữa

Luật sư Trí trình bày quan điểm, nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu được và những chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở xác định: từ ngày 08/6/2025 đến ngày 16/6/2025, Trần Thị Thu H có hành vi đe dọa sẽ tố cáo việc chị H có quan hệ bất chính với bố đẻ của bị cáo đến nơi công tác cũng như với chồng của bị hại, uy hiếp tinh thần của chị H nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 50 triệu đồng, thực tế ngày 12/6/2025, chị H đã chuyển cho H chiếm đoạt số tiền 14.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản và đe dọa xâm phạm đến danh dự của người khác được pháp luật bảo vệ.

Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc dùng thủ đọan uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật và muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên vẫn cố tình thực hiện.

Mặc dù số tiền bị cáo mới nhận của bị hại là 14 triệu đồng nhưng mục đích của bị cáo khi đe doạ bị hại là nhằm chiếm đoạt 50 triệu đồng do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền 50 triệu đồng. Hành vi của bị cáo thoả mãn dấu hiệu của tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 170 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có mẹ đẻ là người có thành tích trong công tác. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt.

Đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo:

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần có mức hình phạt tù tương xứng để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chung.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Bị cáo và gia đình đã thỏa thuận và bồi thường xong cho Bị hại, nay không ai có yêu cầu đề nghị gì thêm nên Tòa không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc điện thoại được bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

Đối với bà Bùi Lan H là mẹ của bị cáo, quá trình điều tra không xác định được việc ngày 08/6/2025, bà H có bàn bạc với bị cáo, không biết việc H gọi điện đe doạ yêu cầu chị H chuyển 50 triệu đồng, sau khi biết việc bà H đã can ngăn bị cáo dừng lại, cơ quan điều tra không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm do đó Tòa không giải quyết trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 2 điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điều 38, điều 65, điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

1. Tuyên bố Trần Thị Thu H phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.

Xử phạt Trần Thị Thu H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, 17/11/2025.

Giao bị cáo Trần Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa pH trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7Plus thu giữ của Trần Thị Thu H.

(vật chứng trên hiện lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 12 – Phú Thọ có đặc điểm như Biên bản giao nhận số 06/BB-GNVC ngày 14/1/2025.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được cấp, tống đạt hợp lệ bản án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh PT;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh PT;

- VKSND khu vực 12-PT;

- Phòng PV 06 CA tỉnh PT;

- CQ THA HS – CA tỉnh PT;

- THA DS tỉnh PT;

- UBND phường Hoà Bình;

- Bị cáo;

Nghiêm Hoài Anh

- Lưu HS; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ