vanban.org

Bản án 40/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 11/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo S 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 06( Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, buộc bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo nguyễn bảo sinh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40 /2025/HS-ST
Ngày 11 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thuỷ. Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Đức Dũng 2.Bà Phạm Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Duy Linh là Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 2-Gia Lai , tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 2- Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Thoại - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 2- Gia Lai, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2025/TLST- HS, ngày 23 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 98/2025/QĐXXST- HS, ngày 28 tháng 10 năm 2025, Thông báo chuyển thời gian xét xử số : 338/TB-TA, ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Bảo S, Sinh ngày: 25/5/2001. Tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: thôn L, phường Q, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: không. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính N; Trình độ học vấn: 5/12. Con ngoại hôn và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1983. Vợ, con: chưa có. Tiền án: không. Tiền sự: Ngày 21/4/2020, bị Công an thị xã S, tỉnh Phú Yên (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Sinh trốn tránh, không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (chưa được xóa tiền sự). Nhân thân: Bản án số: 59/2018/HS-ST, ngày 19/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (cũ) tuyên phạt Nguyễn Bảo S 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 22/10/2018, chấp hành xong hình phạt, không bị coi là có án tích. Ngày 01/3/2021, bị Công an thị xã S, tỉnh Phú Yên (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/8/2022, bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Q (cũ) khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 19/9/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can, lý do: bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 18/10/2022, Công an thành phố Q (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 5.000.000 đồng. Bản án số: 233/2022/HS-ST ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn tuyên phạt Nguyễn Bảo S 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản án số: 62/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước tuyên phạt Nguyễn Bảo S 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản án số: 92/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước tuyên phạt Nguyễn Bảo S 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù trong vụ án khác tại Trại giam G, Bộ C. Ngày 18/9/2025 được trích xuất đến Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh G để phục vụ công tác điều tra, xét xử cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Hà Thị L, sinh năm: 1986, ở thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (nay là thôn A, xã A, tỉnh Gia Lai). Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Trọng T, sinh ngày: 01/02/2002, ở thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là thôn A, xã T, tỉnh Gia Lai).Vắng mặt

2. Nguyễn Đình L1, sinh năm: 1992, ở Tổ A, Khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định - nay là phường Q, tỉnh Gia Lai) .Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Bảo S và Trần Trọng T, sinh ngày: 01/02/2002, ở thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là thôn A, xã T, tỉnh Gia Lai) là bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội. Đêm ngày 20/01/2021, S đến tiệm Internet “Đại Sơn” ở thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là xã T, tỉnh Gia Lai) chơi game và gặp T. Tại đây, T rủ S đi bắt trộm gà, S đồng ý. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 21/01/2021, T chuẩn bị sẵn 01 kìm cộng lực, 02 đèn pin, 02 bộ quần áo khoác rồi điều khiển xe mô tô 77L1-918.47 (xe do Sinh mượn của Nguyễn Đình L1, sinh năm: 1992, ở Tổ A, Khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định chở S đi dạo tìm nhà dân sơ hở vào bắt trộm gà. Khoảng 01 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi ngang qua nhà chị Hà Thị L, sinh năm: 1986, ở thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (nay là thôn A, xã A, tỉnh Gia Lai) thì dừng lại. Sinh đứng bên ngoài cảnh giới, còn T dùng kìm cộng lực cắt dây lưới hàng rào B40 của nhà bà L rồi đột nhập vào bên trong sân nhà, T đi ra phía sau chuồng gà bắt 03 con gà mái ta (có đặc điểm: 01 con nặng 2,0 kg, 01 con nặng 2,2 kg, 01 con nặng 2,3 kg) rồi đưa cho S cất giấu bên trong áo khoác. Tín tiếp tục điều khiển xe mô tô chở S đi dạo để bắt trộm gà thì bị Công an xã N (nay là Công an xã A) phát hiện, đuổi bắt và giữ S cùng với tang vật, riêng T chạy thoát. Quá trình bị đuổi bắt, S đã làm mất 01 con gà mái nặng 2,0 kg. Sau đó, Công an xã N (cũ) bàn giao người cùng tang vật cho Công an thị xã A (cũ) để xử lý theo quy định. Ngày 09/02/2021, Công an thị xã A (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 36/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Bảo S với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản trên. Tuy nhiên, trước đó ngày 21/4/2020, Công an thị xã S, tỉnh Phú Yên (cũ) đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0024322/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Bảo S với số tiền 2.000.000 đồng nhưng S đã cố tình trốn tránh, không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đến ngày 05/9/2025, Công an tỉnh G ra Quyết định 1050/QĐ-HB hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 36/QĐ-XPHC, ngày 09/02/202, của Công an thị xã A (cũ). Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 108/KL-HĐĐGTTHS ngày 18/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai), kết luận: 01 con gà mái (loại gà ta), trọng lượng 2,0 kg, trị giá 190.000 đồng; 01 con gà mái (loại gà ta), trọng lượng 2,2 kg, trị giá 209.000 đồng; 01 con gà mái (loại gà ta), trọng lượng 2,3 kg, trị giá 218.500 đồng. Tổng cộng: 617.500 đồng. Về vật chứng: + 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu trắn - đen, biển kiểm soát 77L1-918.47. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu.+ 01 kìm cộng lực, loại nhỏ bằng kim loại, dài 30cm; 02 đèn pin có vỏ bằng nhựa màu trắng xanh. Hiện đang được tạm giữ. + 02 con gà mái ta (01 con nặng 2,2 kg, 01 con nặng 2,3 kg) đã bị chết, nên Công an thị xã A (cũ) đã tiêu hủy. + Riêng 01 con gà mái ta nặng 2,0 kg đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Về dân sự: Bà Hà Thị L không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-TP ngày 22 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Gia Lai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Bảo S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 2- Gia Lai, tỉnh Gia Lai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Bảo S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo S từ 06 đến 09 tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST, ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Về bồi thường thiệt hại: Đề nghị không xem xét. Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 01 (một) cây kìm cộng lực, cán bọc nhựa màu xanh, dài 36 cm; 02 đèn pin có vỏ bằng nhựa màu trắng xanh. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh G , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 2- Gia Lai và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Bảo S tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Mặc dù Nguyễn Bảo S đã có hành vi trộm cắp tài sản và bị Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt hành chính số 00024322/QĐ-XPHC, ngày 21/4/2020, xử phạtt tiền 2.000.000đ, nhưng Sinh cố tình trốn tránh, không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Sau đó vào đêm ngày 20/01/2021 và sáng ngày 21/01/2021, Bị cáo Nguyễn Bảo S đã cùng Trần Trọng T rủ nhau đi bắt trộm gà, khi đi ngang qua nhà bà Hà Thị L, sinh năm: 1986, ở thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (nay là thôn A, xã A, tỉnh Gia Lai), bị cáo Nguyễn Bảo S đứng canh giới, còn Trần TrọngTín dùng kiềm cộng lực cắt lưới B40 của nhà bà L, đi ra phía sau bắt trộm 03 con gà mái ta của bà L.

Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Bảo S là người có khả năng nhận thức được hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được hậu quả của hành vi đó sẽ gây thiệt hại đến tài sản của người khác, nhưng vì bị cáo muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 21/01/2021, tại thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, bị cáo Nguyễn Bảo S đã có hành vi cùng Trần Trọng T lén lút bắt trộm 03(Ba) con gà có tổng giá trị 617.000 đồng của bà Hà Thị L. Mặc dù hành vi trộm này của Nguyễn Bảo S đã bị Công an thị xã A ra Quyết định xử phạt hành chính số 36/QD-XPHC, tuy nhiên bị cáo Nguyễn Bảo S đã có tiền sự ngày 20/4/2020 bị Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt hành chính số 00024322/QĐ-XPHC, ngày 21/4/2020, xử phạt tiền 2.000.000đ, nhưng Sinh cố tình trốn tránh, không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Do đó ngày 05/9/2025 Công an tỉnh G ra Quyết định huỷ bỏ Quyết định xử phạt hành chính số 36/QĐ-XPHC của Công an thị xã A. Chính vì vậy hành vi trộm của bị cáo Nguyễn Bảo S trộm 03 con gà của Hà Thị L vào ngày 21/01/2021 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, Tội phạm và Hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo S thực hiện hành vi cố ý xâm phạm đến tài sản của người khác; hành vi của bị cáo làm mất an ninh trật tự nơi xảy ra vụ án. [5] Xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo S phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, Bị cáo hiện đang chấp hành nhiều bản án tại Trại giam G nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp với 06 ( Sáu ) năm 03( Ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST, ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án.

Xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét. [7] Về vật chứng vụ án: 01 (Một) cây kìm cộng lực, loại nhỏ, dài 30cm . 02 đèn pin có vỏ bằng nhữa màu trắng là công cụ bị cáo phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu và tiêu huỷ. Đối với chiếc xe mô tô biển số 77L1-918.47 của Nguyễn Đình L1 đã cho S mượn nhưng ông L1 không biết để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G trả lại cho ông L1 là có căn cứ pháp luật.

Xét về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 còn qui định hình phạt bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo S không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [9] Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Bảo S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với Trần Trọng T có hành vi cùng Nguyễn Bảo S trộm cắp tài sản là 03 con gà của bà Hà Thị L vào ngày 21/01/2021 nhưng tổng giá trị tài sản mà T chiếm đoạt là 617.000đồng. Mặc dù vào ngày 15/9/2019 T đã bị kết án về tôi trộm cắp, nhưng tại thời điểm kết án này, T là người chưa thành niên nên không bị xem là có án tích. Do đó hành vi trộm 03 con gà của T không thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên không phạm tội. Dó đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G không xử lý hình sự đối với Trần Trọng T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Đình L1 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 77L1-918.47, nhưng khi Nguyễn Bảo S sử dụng đi trộm cắp tài sản ông L1 không biết nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G không xử lý hình sự đối với Nguyễn Đình L1 là có căn cứ, đúng pháp luật. [12] Xét những chứng cứ mà kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo S 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 06( Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, buộc bị cáo S phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 06 (Sáu ) năm 09 (Chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạ tù tính từ ngày 18 tháng 07 năm 2022.

3. Về bồi thường thiệt hại: Toà không xem xét.

4. Về vật chứng vụ án: Tuyên tịch thu và tiêu huỷ 01 (Một) cây kìm cộng lực, loại nhỏ bằng kim loại, dài 30 cm và 02 (Hai ) đèn pin có vỏ bằng nhựa màu trắng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an tỉnh G và Phòng Thi hành án dân sự Khu Vực 2- Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

5. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo S. 6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo S phải chịu số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/12/2025). Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ