vanban.org

Bản án 40/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Huy H.

2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Ngô Hải T, sinh ngày 17/7/2011. Anh Ngô Huy H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Ngô Huy H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Huy H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 40/2025/HNGĐ - ST
Ngày 30 - 6 - 2025
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Huê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc: “Kiện xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số nhà 11 đường Lê Duẩn, tổ 9, phường T (nay là tổ 9D, phường C), thành phố P, tỉnh Hà Nam.

2. Bị đơn: Anh Ngô Huy H, sinh năm 1979.

Nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 11 đường Lê Duẩn, tổ 9, phường T (nay là tổ 9D, phường C), thành phố P, tỉnh Hà Nam.

(Chị H có mặt; anh H vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Ngô Huy H kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường C), thành phố P, tỉnh Hà Nam vào ngày 05 tháng 12 năm 2001. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H ham chơi, không chăm lo cho gia đình, nợ nần nhiều, vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm, cãi chửi nhau. Năm 2015 anh H tự bỏ nhà đi, từ đó đến nay không liên lạc gì về với chị và gia đình, cũng không khai báo với chính quyền địa phương. Chị và gia đình đã hỏi thăm bạn bè và tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của anh H, không ai biết tin tức gì của anh H, cũng không biết anh H đang ở đâu. Ngày 16/8/2024, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý đã ra Quyết định số 04/2024/QĐST-DS tuyên bố một người mất tích đối với anh Ngô Huy H, kể từ đó đến nay anh H không về địa phương, chị và gia đình cũng không nhận được tin tức gì của anh H. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H để anh ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 04/11/2002 và Ngô Hải T, sinh ngày 17/7/2011, hiện cháu T đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết; cháu T đang do chị nuôi dưỡng. Ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh Hoàn cấp dưỡng nuôi con.

Con nuôi, con riêng: Không có.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Chị H xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị H giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, không thay đổi, bổ sung gì.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nghỉ nghị án đều tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Ngô Huy H do đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên các văn bản tố tụng đều được Tòa án niêm yết công khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Sau khi trình bày, phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét quan điểm, nguyện vọng của các đương sự. Đề nghị HĐXX xem xét, quyết định:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 144, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Huy H.

+ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Ngô Hải T, sinh ngày 17/7/2011. Anh H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H có đủ cơ sở xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Ngô Huy H có nơi cư trú cuối cùng tại tổ 9, phường T (nay là tổ 9D, phường C), thành phố P, tỉnh Hà Nam nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

[2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Anh Ngô Huy H đã bị Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý tuyên bố mất tích vào ngày 16/8/2024, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh H theo quy định của pháp luật và đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 12/6/2025. Do đó, việc xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Huy H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/12/2001 tại UBND phường T (nay là phường C), thành phố P, tỉnh Hà Nam đã thỏa mãn với điều kiện, thủ tục kết hôn được Luật hôn nhân và gia đình bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H, HĐXX thấy rằng: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H chơi bời dẫn đến nợ nần, không quan tâm đến vợ con và gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm, cãi chửi nhau. Từ năm 2015 anh H bỏ nhà đi khỏi địa phương, đến ngày 16/8/2024 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý đã tuyên bố mất tích đối với anh H, từ đó đến nay không cũng có tin tức gì về anh H. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng anh chị đã chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ năm 2015 đến nay, do đó cần xử cho ly hôn giữa chị H và anh H là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 04/11/2002 và Ngô Hải T, sinh ngày 17/7/2011. Khi ly hôn chị H đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; đối với cháu T đã trưởng thành đủ 18 tuổi, chị H không đề nghị giải quyết. HĐXX thấy rằng, kể từ khi anh H bỏ đi (năm 2015) đến nay cháu T đều do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường; do đó, cần tiếp tục giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với thực tế và phù hợp với pháp luật.

[5] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 228, 271, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Huy H.

2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Ngô Hải T, sinh ngày 17/7/2011. Anh Ngô Huy H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

3/ Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Đối trừ với 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002147 ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, chị H có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ