- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị lL Thuỷ ly hôn với Nguyễn NgọcTiến"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Lệ T1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-GIA LAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2025 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-GIA LAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Bích Thuỷ;
2. Ông Nguyễn Hữu Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hữu Xuân Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Hồ Thái Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2025; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Lệ T1, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Nay là thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Nay là thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai)
(Chị Hoàng Thị Lệ T1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Ngọc T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 4 năm 2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị Lệ T1 trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Ngọc T tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày 29 tháng 8 năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng; vợ chồng sống ly thân từ đầu tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong công việc, cuộc sống; anh T không chí thú làm ăn, quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình mà thường xuyên ăn chơi, cờ bạc và có hành vi bạo lực đối với chị T1. Chị Hoàng Thị Lệ T1 nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng trầm trọng kéo dài nhưng không có biện pháp hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Toà giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
+ Về con chung: Không có.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T: Anh Nguyễn Ngọc T có nơi đăng ký thường trú tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai). Tòa án tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hoà giải.
- Tại phiên toà: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Lệ T1 vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nguyên đơn chị T1 giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và bị đơn cư trú tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai) theo quy định của khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án:
++ Về hôn nhân: Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Chấp nhận cho chị Hoàng Thị Lệ T1 được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
++ Về con chung: Không có.
++ Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa giải quyết, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án không làm việc được với bị đơn nên không có căn cứ để xác định tài sản chung, nợ chung nên không có cơ sở để xem xét giải quyết, khi đương sự có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết trong một vụ án khác.
+ Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Hoàng Thị Lệ T1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vu ̣ kiện “Ly hôn” và người bị kiện cư trú tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai). Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vu ̣ kiện thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai).
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Lệ T1 vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Ngọc T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Hoàng Thị Lệ T1 và bị đơn anh Nguyễn Ngọc T.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Ngọc T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là UBND xã P, tỉnh Gia Lai) vào ngày 29 tháng 8 năm 2016. Lời trình bày của chị Hoàng Thị Lệ T1 phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số: 57, ngày đăng ký 29/8/2016 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là UBND xã P, tỉnh Gia Lai) cấp cho Lê Hoàng Thị Lệ T1 và Nguyễn Ngọc T (Bản chính). Nên hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Ngọc T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Chị T1 cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn và ngày trầm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong công việc, cuộc sống; anh T không chí thú làm ăn, quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình mà ăn chơi, cờ bạc, có hành vi bạo lực gia đình và vợ chồng sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án cho anh T, nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không đến Tòa án để trình bày ý kiến, hoà giải và tại phiên tòa anh T vắng mặt. Điều này cho thấy, anh T đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Ngọc T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị T1, anh T tại địa phương nơi cư trú. Do đó, chấp nhận cho chị Hoàng Thị Lệ T1 được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Không có, nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị Lệ T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do không làm việc được với anh Nguyễn Ngọc T nên vấn đề này sẽ được xem xét trong một vụ án khác, nếu các bên đương sự có yêu cầu.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Hoàng Thị Lệ T1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T1 đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số : 0004510 ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ , tỉnh Bình Định (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai). Chị Hoàng Thị Lệ T1 đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Về đề nghị của Kiểm sát viên hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Lệ T1.
1. Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Lệ T1 được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không xem xét trong vụ án này. Khi nào chị Hoàng Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Ngọc T có tranh chấp, yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Hoàng Thị Lệ T1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T1 đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số: 0004510 ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai). Chị Hoàng Thị Lệ T1 đã xong.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND khu vực 3-Gia Lai; - Các đương sự; - THADS tỉnh Gia Lai; - UBND xã Phù Mỹ Tây; - Lưu VP- HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |