- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Giáng H:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày:19 - 5-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Nhân
Bà Phạm Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Kim Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đìnhsơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số84/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày29/4/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 83/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Giáng H, sinh năm: 1991;nơi cư trú: tổ 1, khu 1, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vương Văn M, sinh năm 1987;nơi cư trú:tổ 1, khu 1, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Giáng H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: năm 2011, chị và anh Vương Văn M tự nguyện kết tại UBND phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sinh sống tại phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thìphát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh M mải chơi, không quan tâm gia đình và con cái. Từ tháng 5/2024, chị và anh M sống ly thân, chị chuyển về nhà mẹ đẻ ở phường Cao Thắng sinh sống, vợ chồng chị không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị được hai bên gia đình nội ngoạihòa giải nhưng không có kết quả.Đến nay,chị xác nhận không còn tình cảm với anh M, mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.
Về con chung: Chị và anh M có hai con chung là cháu Vương Minh Q, sinh ngày 15/02/2012 và cháu Vương Bảo L, sinh ngày 12/9/2021. Hiện nay cháu L đang ở cùng chị nên khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L. Còn cháu Q hiện ở cùng anh M, nên anh M sẽ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q. Không ai phải cấp dưỡng muôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vương Văn M đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án, nhưng không đến làm việc cũng như không có quan điểm giải quyết vụ án.
Biên bản xác minh ngày 21/4/2025, ông Vương Thanh Bình cung cấp nội dung: Ông Bình và bà Đinh Thị Hậu là bố mẹ của anh Vương Văn M. Anh M, chị Nguyễn Giáng H kết hôn năm 2011 và sống chung cùng ông bà tại tổ 1, khu 1, phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long. Vợ chồng anh M có 02 con chung là cháu Vương Minh Q, sinh ngày 15/02/2012 và cháu Vương Bảo L, sinh ngày 12/9/2021. Quá trình chung sống, anh M và chị H thường xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm sống. Khoảng giữa năm 2024, chị H đưa cháu L về nhà ngoại sinh sống, còn anh Long và cháu Q vẫn ở cùng ông bà, cả hai cháu đều được bố mẹ chăm sóc tốt. Gia đình hai bên nội ngoại đã khuyên bảo để vợ chồng anh M hàn gắn nhưng không có kết quả. Các văn bản tố tụng của Toà án gửi cho anh M, ông bà đã nhận được và đều thông báo lại cho anh M, tuy nhiên do anh M bận công việc nên không thu xếp thời gian đến Toà án làm việc được.
Biên bản xác minh ngày21/4/2025, ông Tô Văn Tạc (trưởng khu phố 1, phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) cung cấp thông tin: vợ chồng anh Vương Văn M và chị Nguyễn Giáng H là công dân cư trú tại tổ 11, khu 1, phường Hà Lâm, thành phố Hạ Long.Vợ chồng anh M có 02 con chung là cháu Vương Minh Q và cháu Vương Bảo L. Quá trình sinh sống tại địa phương, vợ chồng anh M có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, anh M và chị H đã sống ly thân, chị H và cháu L đã chuyển ra ngoài sinh sống.
Biên bản lấy ý kiến con chung, cháu Vương Minh Q có ý kiến: cháu là con của bố Vương Văn M và mẹ Nguyễn Giáng H. Quá trình chung sống bố mẹ cháu có mâu thuẫn, tranh cãi với nhau. Hiện nay bố mẹ cháu không còn chung sống với nhau nữa. Mẹ cháu và em cháu là Vương Bảo L đã chuyển về nhà bà ngoại ở, còn cháu ở cùng bố và nhà ông bà nội. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở cùng bố.
Ngày 29/4/2025, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Anh Mvắng mặt không lý do, chị H có đơn từ chối hòa giải và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa, chịHương có đơn xin vắng mặt vàgiữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung. Anh Mvắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơnthực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơnthực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị HĐXX căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Giáng H được ly hôn với anh Vương Văn M, giao con Vương Bảo L, sinh ngày 12/9/2021 cho chị H trực tiếp trông nuôi dưỡngcho đến khi thành niên; giao con Vương Minh Q, sinh ngày 15/02/2012 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡngcho đến khi thành niên. Chị H và anh M không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: nguyên đơn chị Nguyễn Giáng H khởi kiện“ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn anh Vương Văn M,có địa chỉ tạiphường Hà Lầm, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, nên Tòa án nhân dân thành phố Hạ Longcó thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn anh Vương Văn M đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn anh M.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Giáng Hvà anh Vương Văn M tự nguyện kết hôn năm 2011tại UBND phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long, nên xác định quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh M chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thìphát sinh mâu thuẫn.Nguyên nhân mâu thuẫndo anh M mải chơi không quan tâm, chăm lo cho gia đình và con cái. Chị H và anh M sống ly thân từ tháng 5/2024, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị H được hai bên gia đình nội ngoại và khu phố hòa giải nhưng không có kết quả.Quá trình giải quyết vụ án, anh Mkhông đến Tòa làm việc cũng như không có quan điểm giải quyết thể hiện anh Mkhông muốn hàn gắn với chị H.Như vậy, mâu thuẫn giữa chị H và anh Mlà trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn anh M.
Về con chung: Chị Hvà anh M có hai con chung là cháu Vương Minh Q, sinh ngày 15/02/2012 và cháu Vương Bảo L, sinh ngày 12/9/2021. Khi ly hôn chị Hcó nguyện vọng nuôi cháu L, còn anh M nuôi cháu Q, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị H thấy: hiện nay cháu L ở cùng chị H, còn cháu Q ở cùng anh M, cả hai cháu đều được bố mẹ chăm sóc tốt. Bản thân cháu Q có nguyện vọng ở cùng bố, còn cháu L còn nhỏ cần được sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Do đó, giao cháu L cho chị H và giao cháu Q cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.Từ phân tích trên chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của chị H.
Về tài sản chung, nợ chung chị H không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập.
Về án phí dân sự sơ thẩm:nguyên đơn chị Hphải chịu 300.000 đồng án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 244, khoản 3 Điều 228,Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57,Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Giáng H:
1.Về quan hệ hôn nhân:Chị Nguyễn Giáng Hương được ly hôn anh Vương Văn M.
2. Về con chung: giao con Vương Bảo L, sinh ngày 12/9/2021cho chị Nguyễn Giáng H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụccho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Giao con Vương Minh Q, sinh ngày 15/02/2012 cho anh Vương Văn M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụccho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Giáng H và anh Vương Văn M không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H và anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3.Án phí: Chị Nguyễn Giáng H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)tiền tạm ứng án phí đã nộptheo Biên lai số 0001708 ngày 19/02/2025của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị Hđã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo:nguyên đơn, bị đơn vắng mặtcó quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hạ Long;
- Chi cục THADS thành phố Hạ Long;
- UBND phường Hà Lầm (nơi ĐKKH);
- TAND,VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Lưu hồ sơ, VP.
Lê Thị Thu Hiền
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Hiền
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Hiền
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã Đông Triều; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; - UBND xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (nơi ĐKKH). - TAND,VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hiền |