vanban.org

Bản án 40/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc T đối với bị đơn anh Võ Thành T1.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Ngọc T và anh Võ Thành T1. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị Ngọc T trực tiếp nuôi 02 con chung là Võ Thành T2, sinh ngày 01/7/2009 và Võ Thành H, sinh ngày 31/12/2014. Chị Trần Thị Ngọc T không yêu cầu anh Võ Thành T1 cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân vụ ly hôn giữa chi T với anh T1"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc T đối với bị đơn anh Võ Thành T1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-4-2025
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Minh Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Chí

2. Ông Nguyễn Thanh An

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 730/2024/TLST–HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2024 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33A/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Anh Võ Thành T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc T trình bày: Chị và anh Võ Thành T1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 07/7/2008, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển số 0I, tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2023 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không đồng quan điểm sống, tính cách nên thường xảy ra cãi nhau, bên cạnh đó anh T1 không có trách nhiệm trong việc chăm lo cho gia đình. Vợ chồng chị sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay. Nay chị thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc và cũng không thể tiếp tục nên chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Thành T1. Về con chung: chị và anh T1 có 02 con chung là Võ Thành T2, sinh ngày 01/7/2009 và Võ Thành H, sinh ngày 31/12/2014. Hiện 02 con chung đang sống với chị. Chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung, chị không yêu cầu anh Võ Thành T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Võ Thành T1 đã được Tòa án cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thẩm quyền của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn anh Võ Thành T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc T và anh Võ Thành T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2008, đúng với quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T1 do trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và không còn chung sống từ cuối năm 2023. Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải vụ án nhằm tạo điều kiện cho chị T và anh T1 tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Còn chị T kiên quyết ly hôn với anh T1. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T đối với anh T1.

Nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Ngọc T và anh Võ Thành T1 có 02 con chung là Võ Thành T2, sinh ngày 01/7/2009 và Võ Thành H, sinh ngày 31/12/2014. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, anh T1 không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu nuôi các con chung của chị T. Xét thấy, 02 con chung đều đang sống với chị T, được chị T chăm sóc và có cuộc sống ổn định, đồng thời 02 con chung có nguyện vọng muốn được sống với chị T. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho chị T được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, do chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày chị và anh T1 không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

Án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc T đối với bị đơn anh Võ Thành T1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Ngọc T và anh Võ Thành T1.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị Ngọc T trực tiếp nuôi 02 con chung là Võ Thành T2, sinh ngày 01/7/2009 và Võ Thành H, sinh ngày 31/12/2014. Chị Trần Thị Ngọc T không yêu cầu anh Võ Thành T1 cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013841 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An, chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ