- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Nam phạm tội Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2024/HSST Ngày 05/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn N, sinh năm 1987 tại Hòa Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đồng T, xã Yên Tr, huyện Yên Th, tỉnh H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn K và bà Đoàn Thị X; Vợ: Vũ Thị Như L (đã ly hôn); Con: 02 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sóc Sơn, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn Văn Q, sinh năm 1992. (Có mặt).
Trú tại: Xóm Đồng T, xã Yên Tr, huyện Yên Th, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua giàn pháp hoa nổ để sử dụng vào dịp tết nên vào khoảng trung tuần tháng 12/2023, Bùi Văn N đặt mua qua tài khoản Facebook “Pháo tết 2024 giá rẻ, không cọc” 06 hộp pháo nổ giàn 49 quả có in chữ nước ngoài không rõ nguồn gốc xuất xứ với giá 1.000.000 đồng với mục đích để sử dụng đốt trong dịp tết nguyên đán Giáp Thìn năm 2024. Sau khoảng 4 ngày, Nam được được một người nam giới (không rõ tên địa chỉ cụ thể) giao cho một túi nilong chứa 06 hộp pháo nổ giàn 49 quả tại phòng trọ của Nam ở tổ 2, thôn Giai Lạc, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Sáng ngày 09/01/2024, Nam lấy 05 hộp pháo cho vào thùng carton rồi quấn băng dính xung quanh thùng với mục đích đem đến nhà chị Đỗ Hoàng Minh Nguyệt - sinh năm: 2004, ở thôn Thạch Lỗi, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn (là bạn gái của Nam) để gửi nhờ và chờ đến khi nghỉ tết sẽ mang về nhà ở Hoà Bình đốt, còn 01 hộp pháo còn lại Nam để lại ở phòng trọ để chờ đến khi tổ chức ăn tất niên thì đốt trước khi về quê. Chiều ngày 09/01/2024, chị Nguyệt đến phòng trọ của Nam chơi, khoảng 16 giờ 30 phút Nam để thùng carton chứa pháo lên xe mô tô hiệu Honda – BKS: 29-950-U3 và chở chị Nguyệt đi về nhà. Khi đi đến khu vực Nhà văn hóa thôn Thạch Lỗi, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn thì bị tổ tuần tra Công an huyện Sóc Sơn đang trên đường làm nhiệm vụ đã kiểm tra phát hiện, đồng thời tiến hành lập biên bản tạm giữ 01 thùng carton chứa 05 hộp pháo nổ do nước ngoài sản xuất; 01 xe mô tô hiệu Honda – BKS: 29-950-U3; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 ProMax của Nam.
Tiến hành kiểm tra phòng trọ của Nam tại tổ 2, thôn Giai Lạc, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội phát hiện và tạm giữ 01 hộp pháo nổ do nước ngoài sản xuất.
Tại Bản kết luận giám định số 476 ngày 12/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: 05 khối hình hộp, mỗi khối bên trong có 49 ống hình hộp có khối lượng 09kg là pháo hoa nổ; 01 khối hình hộp, mỗi khối bên trong có 49 ống hình hộp có khối lượng 02kg là pháo hoa nổ. Phòng PC09 –CATP Hà Nội lưu mẫu 01 khối pháo hình hộp phục vụ công tác giám định. Số vật chứng còn lại đã được hoàn trả lại Cơ quan điều tra để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại cơ quan CSĐT – Công an huyện Sóc Sơn, Bùi Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS ngày 25/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Bùi Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định đã truy tố; bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt Bùi Văn N mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 10/01/2024.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 05 hộp pháo nổ thu giữ của Bùi Văn N; Trả lại cho Bùi Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax; Trả lại cho anh Đỗ Văn Quyền 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, BKS 29-950-U3, số khung 15950, số máy 1018960.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người chứng kiến, Biên bản phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 09/01/2024 Bùi Văn N đã có hành vi tàng trữ 05 hộp pháo hoa nổ tại địa phận thôn Thạch Lỗi, xã Thanh Xuyên, huyện Sóc Sơn với mục đích mang về quê để sử dụng thì bị Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra, bắt giữ. Ngoài ra, Nam còn cất giấu 01 hộp pháo hoa nổ ở nhà trọ tại tổ 2, thôn Giai Lạc, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội với mục đích để đốt trước khi về quê ăn tết. Tại Bản kết luận giám định số 476 ngày 12/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nôi kết luận: 05 khối hình hộp, mỗi khối bên trong có 49 ống hình hộp có khối lượng 09kg là pháo hoa nổ; 01 khối hình hộp, mỗi khối bên trong có 49 ống hình hộp có khối lượng 02kg là pháo hoa nổ. Hành của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 322, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309, và 311 của bộ luật hình sự này thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a)…;
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;…
…;
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Bùi Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét tính chất của vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số hành cấm và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là loại tội liên quan đến pháo nổ ngày càng có xu hướng gia tăng trong dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy bị cáo nhận thức rõ hệ lụy từ việc sử dụng pháo nổ là rất lớn, có thể gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản của người sử dụng cũng như những người xung quanh. Đồng thời chính sách pháp luật của Nhà nước nghiêm cấm hành vi sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong đó có pháo nổ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn thực hiện thể hiện ý thức ham chơi, coi thường pháp luật. Vì vậy thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với tài khoản Facebook trong nhóm “Pháo tết 2024 giá rẻ, không cọc”, sau khi đặt mua Nam đã làm mất điện thoại và không nhớ tên tài khoản giao dịch mua bán pháo nổ nên không có thông tin để mở rộng điều tra làm rõ.
Đối với đối tượng bán pháo hoa nổ cho bị cáo, quá trình điều tra do không xác định được tên, tuổi của người này, nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Đoàn Văn Q và Đỗ Hoàng Minh Ng, có hành vi cho mượn xe máy và đi cùng Bùi Văn N vận chuyển pháo. Tuy nhiên, Quyền và Nguyệt không biết việc Nam mua và tàng trữ pháo nổ, do đó không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe Mô tô hiệu Honda-BKS: 29-950-U3, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là do Nam mượn của anh Đoàn Văn Quyền. Chiếc xe trên, anh Quyền mua lại từ năm 2020 ở Hà Nội, không nhớ địa chỉ của người bán xe và không còn lưu giữ được giấy tờ mua bán. Kết quả tra cứu nguồn gốc xe xác định: Xe mô tô BKS: 29-950-U3 mang tên chủ xe Vũ Tuyết Nhung, sinh năm: 1957, trú tại số 71E, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội. Xác minh tại Công an phường Kim Mã xác định: Tại địa chỉ số 71E, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội không có ai tên Vũ Tuyết Nhung, sinh năm: 1957 sinh sống và đăng ký thường trú tại địa chỉ nêu trên. Tra cứu tại Phòng Cảnh sát Hình sự, Công an thành phố Hà Nội xác định: xe mô tô - BKS: 29-950-U3 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Xét thấy việc Nam sử dụng chiếc xe mô tô vào việc vận chuyển pháo nổ nhưng anh Quyền không biết, đây là tài sản hợp pháp của anh Quyền nên trả lại cho anh Quyền.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với người phạm tội. Quá trình xác minh tại địa phương xác định bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn chuyển theo hồ sơ 01 thùng carton bên trong chứa pháo nổ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus. Xét thấy toàn bộ số pháo hoa nổ là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax bị cáo mua sau thời điểm giao dịch với đối tượng bán pháo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc khi mua pháo, hiện bị cáo đã làm mất, không thu giữ được.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Bùi Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 05 hộp niêm phong pháo do nước ngoài sản xuất rong chứa pháo nổ được niêm có chữ kỹ của Điều tra viên, Giám định viên và bị cáo; Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax; Trả lại cho anh Đoàn Văn Quyền 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 29-950-U3, số khung 15950, số máy 1018960 (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/01/2023 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - Trại tạm giam số 1 Công an TP. Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tùng |