- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Tiễn - Lý Dũng phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố các bị cáo Trần V n T, Lý D phạm tội “Trộm cắp tài sản”
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:40/2024/HSST Ngày: 30/08/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Liêu Tài Ngoánh
2/ Ông Huỳnh Tài Em Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung, thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 08 n m 2024, tại tr s Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 28/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 06 n m 2024 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST –HS ngày 02 tháng 08 n m 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 08 n m 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 n m 1988, tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú tại: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ v n hóa: 7/12. Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần V n T1 và bà Nguyễn Thị P; có v đã ly hôn và 02 con, lớn nhất sinh n m 2011, nh nhất sinh n m 2016; tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị cáo đư c tại ngoại t đầu. Bị cáo có m t .
2. Lý D, sinh ngày 02 tháng 03 n m 1998, tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú tại: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ v n hóa: 5/12. Dân tộc: khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V n C và bà Lý Thị X; có v , chưa có con; tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị cáo đư c tại ngoại t đầu. Bị cáo có m t .
- Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH T2- Chi nhánh 1 tại Bạc Liêu
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Người đại diện theo pháp luật: Ông T, chức v : Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Q, sinh n m 1989 có đơn xin xét xử vắng m t .
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Giấy ủy quyền đề ngày 29/12/2023
- Người có quyền l i, nghĩa v liên quan đến v án:
1. Ông V n Bảo H, sinh n m 1972 có đơn xin xét xử vắng m t .
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án đư c tóm tắt như sau:
Vào ngày 27/10/2023, Lý D cùng với Trần V n T đi gi ng lưới trong ao nước lắng của Công ty TNHH T2- Chi nhánh 1 tại Bạc Liêu thường gọi là Công ty CP thuộc ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thì D và T phát hiện trong ao nước có 03 ba đoạn dây cáp dẫn điện đang để dưới đáy ao, do đó, D và T nảy sinh ý định lấy trộm dây cáp điện mang đi bán phế liệu lấy tiền tiêu xài, do thấy dây cáp quá dài và không có d ng c để cắt mang đi đư c, nên D và T đi về nhà, đến khoảng 18 giờ ngày 28/10/2023, T chạy xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại wave, biển kiểm soát 94F1-215.76 mang theo cây kìm sắt và bao đựng chạy đến trước nhà rước D cùng đi đến địa điểm trên để cắt trộm dây cáp dẫn điện, T đậu xe bên đường lộ bê tông rồi D và T mang bao, kìm lội qua đường kênh mương 1 để đến chỗ cắt dây điện, D và T kéo dây cáp lôi t dưới ao lên bờ rồi thay phiên nhau dùng kìm đã mang theo cắt dây cáp thành t ng đoạn ngắn b vào đầy 02 hai bao rồi lôi ra xe ch đi đến nhà của ông V n Bảo H thị trấn H để bán với giá là 15.000 đồng/kg, tổng cộng cân đư c 72kg, bán đư c số tiền là 1.080.000 đồng Một triệu không tr m tám ch c nghìn đồng , D và T chia đôi số tiền này và tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 29/10/2023, T và D thấy Công ty TNHH T2- Chi nhánh 1 tại Bạc Liêu chưa phát hiện mất trộm tài sản, nên đến khoảng 18 giờ, ngày 30/10/2023, D và T tiếp t c đi đến địa điểm trên để cắt trộm dây cáp dẫn điện, D điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, biển kiểm soát 94K2-259.21, còn T chạy chiếc xe máy của T đã đi lần trước mang theo kìm và bao, khi đến nơi D và T thay phiên nhau dùng kìm cắt hết số dây cáp dẫn điện còn lại dưới ao thành t ng đoạn ngắn b vào 06 sáu bao rồi lôi ra chỗ đậu xe, D dùng xe máy của D ch 03 ba , còn T dùng xe máy của T ch 03 ba bao cùng mang ra nhà của ông H để bán với giá như lần trước, tổng cộng cân đư c 169kg, bán đư c số tiền là 2.535.000 đồng Hai triệu n m tr m ba mươi l m nghìn đồng , nhưng chỉ lấy của ông H số tiền là 2.530.000 đồng Hai triệu n m tr m ba mươi nghìn đồng , sau đó, D và T chia mỗi người 1.250.000 đồng Một triệu hai tr m n m mươi nghìn đồng , còn lại số tiền 30.000 đồng Ba mươi nghìn đồng D và T mua rư u cùng nhau nhậu.
Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, qua công tác nắm tình hình, Công an thị trấn H đã mời ông V n Bảo H để làm việc, ông H khai nhận việc mua dây cáp dẫn điện và tự nguyện giao nộp cho Công an thị trấn H các bao đựng dây cáp điện với tổng trọng lư ng là 257,8kg, ngoài ra, ông V n Bảo H còn giao nộp 01 một cây dao yếm lưỡi bằng kim loại, cán gỗ, mũi nhọn, lưỡi dao dài 27cm, cán dao dài 14,5cm, bề rộng nhất của lưỡi 7cm là công c ông H dùng để tách v dây điện.
Ngày 31/10/2023, Lý D đến Công an huyện H đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04, ngày 04 tháng 01 n m 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện H, kết luận: 257,8kg dây điện có đ c điểm: Đã bị cắt và tách v thành nhiều đoạn có chiều dài khác nhau và có lõi bên trong làm bằng nhôm, đều có tiết diện là 150mm2, tình trạng đã qua sử d ng, tại thời điểm ngày 28/10/2023 và ngày 30/10/2023 cùng có giá tài sản thực tế giá phế liệu đã đư c khảo sát là 18.000 đồng/kg. Tổng trọng lư ng 257,8kg có giá trị là 4.640.000 đồng Bốn triệu sáu tr m bốn mươi nghìn đồng .
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSHB ngày 17/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố các bị cáo Trần V n T và Lý D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần V n T và Lý D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Đề nghị:
- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần V n T t 04 tháng tù đến 05 tháng tù.
- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý D t 03 tháng tù đến 04 tháng tù.
Về vật chứng: Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 một xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu đen, số khung: RLHJA3901HY190314, số máy: JA39E0190345, biển kiểm soát 94F1-215.76, xe không có kính chiếu hậu, không có mũ hai bên sườn, m t nạ trước và hai bên vè, m t kính đồng hồ bị bễ, xe không có chìa khóa. Rỉ sét nhiều nơi. Tình trạng đã qua sử d ng.
+ 01 một xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu đ - đen, biển số 94K2-259.21, số khung: RLHJA3661MY012082, số máy: JA36E1034637, có hai kính chiếu hậu, xe không có chìa khóa. Rỉ sét nhiều nơi. Tình trạng đã qua sử d ng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 một cây kìm sắt cộng lực, cán màu xanh, tổng chiều dài 60,8cm, phần lưỡi cắt dài 3,8cm, tình trạng đã qua sử d ng;
- Trả lại cho ông V n Bảo H 01 một cây dao yếm lưỡi bằng kim loại, cán gỗ, mũi nhọn, lưỡi dao dài 27cm, cán dao dài 14,5cm, bề rộng nhất của lưỡi 7cm, tình trạng đã qua sử d ng.
- Áp d ng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:
+ Giao trả cho ông V n Bảo H số tiền 3.610.000 đồng Ba triệu sáu tr m mười nghìn đồng .
Tại Tòa, các bị cáo Trần V n T và Lý D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Các bị cáo Trần V n T và Lý D nói lời sau cùng với Hội đồng xét xử là xin đư c giảm nhẹ hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trong quá trình tiến hành tố t ng: Về hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự, Người có quyền l i, nghĩa v liên quan đến v án không có người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều h p pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Trần V n T và bị cáo Lý D trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù h p với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết luận: Vào ngày 28/10/2023 và ngày 30/10/2023, Trần V n T và Lý D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 257,8kg dây điện lõi bên trong làm bằng nhôm, đều có tiết diện là 150mm2 của Công ty TNHH T2- Chi nhánh 1 tại Bạc Liêu thuộc ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu với giá trị tài sản qua định giá số tiền là 4.640.000 đồng Bốn triệu sáu tr m bốn mươi nghìn đồng . Khi thöïc hieän haønh vi phaïm toäi các bị cáo Trần V n T và Lý D có ñaày đủ n ng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo T, D phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nên hành vi của các bị cáo Trần V n T và Lý D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử các bị cáo Trần V n T và Lý D theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn có c n cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét vai trò phạm tội của các bị cáo Trần V n T và Lý D trong v án: Bị cáo Trần V n T có vai trò là người kh i xướng, đồng thời, bị cáo T cũng là người chuẩn bị các công c , phương tiện phạm tội như: cây kìm sắt, bao dựng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty TNHH T2- Chi nhánh 1 tại Bạc Liêu thuộc ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Do đó, vai trò phạm tội của bị cáo T cao hơn bị cáo D, vì vậy, bị cáo Trần V n T phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn so với bị cáo Lý D.
Tuy nhiên, trong v án này m c dù giữa các bị cáo Trần V n T và Lý D đã có sự th a thuận, thống nhất ý chí với nhau để cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò c thể, không th a thuận cách thức phân chia tài sản khi đã chiếm đoạt đư c, nên hành vi của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, không mang tính có tổ chức.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần V n T và bị cáo Lý D là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về quyền s hữu tài sản của công dân đư c pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần thiết phải áp d ng hình phạt cách ly các bị cáo kh i sinh hoạt xã hội một thời gian nhất định nhằm để cải tạo, giáo d c các bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và tr thành người công dân tốt có ích cho xã hội và cũng như ph c v cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.
Khi xem xét quyết định hình phạt đối với các bị cáo Trần V n T và Lý D, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần V n T và Lý D đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ n n n hối cải, các bị cáo Trần V n T, Lý D phạm tội lần đầu và thuộc trường h p ít nghiêm trọng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lý D đã đầu thú. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần V n T và bị cáo Lý D theo quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo T và bị cáo D có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đư c quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét áp d ng cho các bị cáo đư c hư ng tình tiết quy định tại khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH T2- Chi nhánh 1 tại Bạc Liêu đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, đã thu giữ tài sản bị mất trộm và giao trả lại cho chủ s hữu, nên Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.
Đối với 01 một xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu đen, số khung: RLHJA3901HY190314, số máy: JA39E0190345, biển kiểm soát 94F1-215.76, xe không có kính chiếu hậu, không có mũ hai bên sườn, m t nạ trước và hai bên vè, m t kính đồng hồ bị bễ, xe không có chìa khóa. Rỉ sét nhiều nơi. Tình trạng đã qua sử d ng là của bị cáo Trần V n T và 01 một xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu đ - đen, biển số 94K2-259.21, số khung: RLHJA3661MY012082, số máy: JA36E1034637, có hai kính chiếu hậu, xe không có chìa khóa. Rỉ sét nhiều nơi. Tình trạng đã qua sử d ng là của bị cáo Lý D. Quá trình điều tra đã chứng minh đư c, các bị cáo đã sử d ng các xe máy trên làm phương tiện thực hiện hành vi lấy trộm tài sản và ch tài sản trộm mang đi bán, nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 một cây kìm sắt cộng lực, cán màu xanh, tổng chiều dài 60,8cm, phần lưỡi cắt dài 3,8cm, tình trạng đã qua sử d ng là của bị cáo Trần V n T đã sử d ng làm công c cắt trộm dây điện. Xét thấy, cây kìm sắt trên đã cũ, không còn giá trị sử d ng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 một cây dao yếm lưỡi bằng kim loại, cán gỗ, mũi nhọn, lưỡi dao dài 27cm, cán dao dài 14,5cm, bề rộng nhất của lưỡi 7cm, tình trạng đã qua sử d ng là tài sản của ông V n Bảo H dùng để tách v dây điện, ông H có yêu cầu nhận lại cây dao yếm trên, nên cần trả lại cho ông V n Bảo H.
Giao trả số tiền 3.610.000 đồng Ba triệu sáu tr m mười nghìn đồng cho ông V n Bảo H.
Các vấn đề khác của v án:
Đối với ông V n Bảo H, ngày 28/10/2023 và ngày 30/10/2023, khi ông H mua dây cáp điện của bị cáo Trần V n T và bị cáo Lý D thì không biết đây là tài sản của bị cáo Trần V n T và bị cáo Lý D có đư c là do phạm tội mà có, nên không đủ c n cứ xử lý.
T những nhận định trên, đối với đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, Hội đồng xét xử xét thấy có c n cứ, nên đư c chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần V n T và Lý D phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/- Tuyên bố các bị cáo Trần V n T, Lý D phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2/- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần V n T 04 ba tháng tù. Thời hạn tù đư c tính t ngày bị baét đi thi hành án.
- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý D 03 ba tháng tù. Thời hạn tù đư c tính t ngày bị baét đi thi hành án.
3/- Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 một xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu đen, số khung: RLHJA3901HY190314, số máy: JA39E0190345, biển kiểm soát 94F1-215.76, xe không có kính chiếu hậu, không có mũ hai bên sườn, m t nạ trước và hai bên vè, m t kính đồng hồ bị bễ, xe không có chìa khóa. Rỉ sét nhiều nơi. Tình trạng đã qua sử d ng.
+ 01 một xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu đ - đen, biển số 94K2-259.21, số khung: RLHJA3661MY012082, số máy: JA36E1034637, có hai kính chiếu hậu, xe không có chìa khóa. Rỉ sét nhiều nơi. Tình trạng đã qua sử d ng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 một cây kìm sắt cộng lực, cán màu xanh, tổng chiều dài 60,8cm, phần lưỡi cắt dài 3,8cm, tình trạng đã qua sử d ng;
- Trả lại cho ông V n Bảo H 01 một cây dao yếm lưỡi bằng kim loại, cán gỗ, mũi nhọn, lưỡi dao dài 27cm, cán dao dài 14,5cm, bề rộng nhất của lưỡi 7cm, tình trạng đã qua sử d ng.
(Vật chứng trên hiện chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý- theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/7/2024).
- Áp d ng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:
+ Giao trả cho ông V n Bảo H số tiền 3.610.000 đồng Ba triệu sáu tr m mười nghìn đồng .
(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý tại biên lai thu tiền số 0001038 ngày 05/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu).
4/- Về án phí: Áp d ng Điều 135,136 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Trần V n T phải chịu 200.000 đồng Hai tr m nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Lý D phải chịu 200.000 đồng Hai tr m nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, các bị cáo có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Đối với nguyên đơn dân sự vắng m t đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án ho c bản án đư c niêm yết. Đối với người có quyền l i, nghĩa v liên quan đến v án vắng m t có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền l i, nghĩa v của mình trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án ho c bản án đư c niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAT Bạc Liêu; - Sở Tư pháp Bạc Liêu; - VKSND huyện Hòa Bình - CQCSĐT – CA huyện Hòa Bình; - THADS huyện Hòa Bình; - Bị cáo, nguyên đơn dân sự; - Người CQL,NVLQ - Lưu hồ sơ vụ án | Phan Thị Mỹ Xuyên |