- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2, điểm khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố t ng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:40/2024/HS-ST Ngày 05 - 11 - 2024 \ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Lược
Ông Nguyễn Quốc Sáu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân (viết tắt: TAND) thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm nhân dân sát nhân dân (viết tắt: VKSND) thị xã B, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình N- kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại tr s TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá, tiến hành x t x sơ th m c ng khai v án hình sự th lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa v án ra x t x số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh ngày 18/5/1991, tại thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Tổ dân phố V, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; T n giáo: kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng: Nguyễn Văn M1 (đã chết), con bà: Nguyễn Thị P; Vợ Lê Thị H; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền sự: kh ng. Tiền án: 03:
- Ngày 07/12/2010 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa x phạt 09 tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 17 tháng 02 ngày, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Trộm cắp tài sản” (Chưa chấp hành hình phạt bổ sung).
- Ngày 22/9/2016 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa x phạt 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 27/7/2019 chấp hành xong án phạt tù.
- Ngày 25/12/2019 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa x phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 24/8/2023 chấp hành xong án phạt tù.
Bị cáo bị tạm giữ từ 25/6/2024 đến 27/6/2024, ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ C ng an thị xã B (có mặt).
* Bị hại: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1995
Nơi cư trú: Th n Đ, xã H, Huyện H,Thanh Hóa (vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Công D, sinh năm 1986
Nơi cư trú: Th n A, xã T, huyện N, Thanh Hóa (vắng mặt)
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1991
Nơi cư trú: Khu phố B, phường B, thị xã B, Thanh Hóa(vắng mặt).
N ỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 22/6/2024, Nguyễn Văn M một mình điểu khiển xe m t nhãn hiệu DAEHANIKD màu trắng, biển kiểm soát: 36AA-408.35 từ nhà trọ khu phố G, phường B, thị xã B đi lượn loanh quanh trên đường. Khi đến ngã tư gần khu vực c ng ty lốp COFO, M nhìn thấy chị Bùi Thị T đang đi xe máy một mình có đeo túi xách trên vai, liền nảy sinh ý định cướp giật túi xách của chị T nên điều khiển xe bám theo chị T. Đến khu vực vắng người trên đường N, M tăng ga áp sát phía bên phải chị T, dùng tay trái giật túi xách rồi chạy thẳng ra đường T. Bị M giật túi, chị T liền h lên “ Cướp” rồi điều khiển xe đuổi theo M. Bị chị T truy đuổi nên trên đường bỏ chạy, đến đoạn đường T thuộc khu phố E, phường B, thị xã B, M n m túi xách của chị T vào b i cỏ bên phải đường m c đích để chị T dừng truy đuổi nhưng chị T vẫn tiếp t c đuổi theo. Chị T vừa đuổi, vừa truy h “Cướp”, “Cướp”. Lúc này, anh Nguyễn Văn S đang ngồi trong quán ăn đêm của anh Lý Thành C địa chỉ A đường T, nghe thấy chị T h “Cướp” cũng điều khiển xe máy đuổi theo M. Bị chị T và anh S đuổi theo, M tiếp t c phóng xe bỏ chạy. Khi đến khu vực đường L thuộc khu phố A, phường B, thị xã B, M bị ngã xe xuống gần suối, kh ng đưa xe lên được nên giấu xe,vứt d p, đi bộ về nhà trọ, sau đó, bắt xe khách về N để trốn. Đến ngày 25/6/2024, biết kh ng thể trốn tránh nên M đã đến C ng an thị xã B xin đầu thú và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra đã khám x t kh n cấp chỗ của Nguyễn Văn M nhưng kh ng thu giữ được đồ vật, tài sản gì.
* Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng, tài sản:
- 01(một) túi xách da màu đen có dòng chữ “Chanel” kích thước (40x30)cm, bên trong có 01 điện thoại Oppo F9, lắp hai ph i sim V và V1; số tiền 940.000đ(chín trăm bốn mươi nghìn đồng) gồm 01 tờ tiền 500.000đ, 01 tờ tiền 200.000đ, 02 tờ tiền 100.000đ(một trăm nghìn đồng), 01 tờ tiền 20.000đ, 02 tờ tiền 10.000đ; 02 quyển v .
- 01(một) xe máy nhãn hiệu DAEHANNIKD màu trắng, dán nhãn WAVES kh ng có biển kiểm soát;
- 01(một) đ i d p xốp màu đen có chữ adidas;
- 02(hai) mảnh gương vỡ kh ng rõ hình dạng, kích thước.
Những đồ vật, tài sản thu giữ đã được Cơ quan điều tra niêm phong theo quy định.
* Về định giá tài sản:
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã B kết luận:
+ 01(một) túi xách da màu đen có dòng chữ “Chanel” kích thước (40x30)cm (loại giả da) giá trị hiện tại là 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
+ 01 (một) điện thoại Oppo F9, lắp hai ph i sim V và V1 giá trị hiện tại là 1.350.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
+ 02 quyển v giá trị 10.000đ (mười nghìn đồng).
- Đối với Lê Công D là chủ s hữu chiếc xe m t BKS 36AA-408.35, D kh ng biết, kh ng bàn bạc, kh ng giúp sức, kh ng hư ng lợi và kh ng che giấu cho M thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên Cơ quan CSĐT C ng an thị xã B kh ng x lý đối với D là phù hợp.
* X lý vật chứng, tài sản thu giữ:
- Đối với 01(một) túi xách da màu đen có dòng chữ “Chanel” kích thước (40x30)cm, bên trong có 01 điện thoại Oppo F9, lắp hai ph i sim V và V1; số tiền 940.000đ (chín trăm bốn mươi nghìn đồng) gồm 01 tờ tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 01 tờ tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 02 tờ tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng), 01 tờ tiền 20.000đ, 02 tờ tiền 10.000đ; 02 quyển v là tài sản của chị Bùi Thị T. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T theo quy định của pháp luật. Nhận lại tài sản chị T kh ng yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M.
- Toàn bộ số vật chứng, tài sản còn lại được chuyển đến Chi c c thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản và x lý theo quy định của pháp luật.
* Tại Bản cáo trạng số: 44/CT-VKSBS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự (viết tắt: BLHS).
Tại phiên tòa Đại diện VKS duy trì c ng tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng x t x (viết tắt: HĐXX):
* Về trách nhiệm hình sự:
- Hình phạt chính: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cướp giật tài sản” theo theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 BLHS;
Áp d ng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38/BLHS đề nghị x phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức án từ 39 tháng đến 42 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: X t hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, kh ng có việc làm ổn định nên đề nghị kh ng áp d ng khoản 5 Điều 171 BLHS để phạt tiền đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản cho chị T. Chị T đã nhận lại tài sản kh ng yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M nên đề nghị miễn x t.
* Về x lý vật chứng: Căn cứ Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS, Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự (viết tắt: BLTTHS) đề nghị HĐXX;
- Trả lại cho anh Lê Công D 01xe máy nhãn hiệu DAEHANNIKD màu trắng, dán nhãn WAVES kh ng có biển kiểm soát;
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01(một) đ i d p xốp màu đen có chữ adidas;
+ 02(hai) mảnh gương vỡ kh ng rõ hình dạng, kích thước.
* Về án phí HSST: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra C ng an thị xã B, Điều tra viên; VKSND thị xã Bỉm Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ t c tố t ng của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan và người làm chứng vắng mặt. Bị cáo và đại diện VKS kh ng đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa. Hồ sơ v án thể hiện lời khai của họ đầy đủ, việc vắng mặt họ kh ng ảnh hư ng đến việc giải quyết v án. Do đó, căn cứ Điều 292 và Điều 293 BLTTHS HĐXX vẫn tiến hành x t x v án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của VKS. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ, HĐXX có đủ cơ s kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 22/6/2024, tại đường N thuộc khu phố H, phường B, thị xã B, Nguyễn Văn M đã điều khiển xe máy cướp giật của chị Bùi Thị T 01 chiếc túi xách và các tài sản bên trong có tổng trị giá là 2.400.000 đồng tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại.
Hành vi của Nguyễn Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội " Cướp giật tài sản" tội phạm và hình phạt được quy định x lý tại điểm d, i khoản 2 Điều 171/BLHS. Do đó, VKSND thị xã Bỉm Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
X t tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn M là nghiêm trọng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách liều lĩnh, dùng tay trái giật túi xách của chị T rồi nhanh chóng t u thoát. Hành vi của bị cáo kh ng những đã xâm phạm đến quyền s hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ mà con gây ảnh hư ng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Mặt khác, cướp giật tài sản từ lâu đã tr thành vấn đề nhức nhối, tr thành nỗi ám ảnh của kh ng ít người dân, gây bức xúc trong dư luận, hơn nữa bị cáo đang có 03 tiền án (ngày 07/12/2010 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa x phạt 09 tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 17 tháng 02 ngày, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Trộm cắp tài sản” (Chưa chấp hành hình phạt bổ sung); Ngày 22/9/2016 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa x phạt 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 27/7/2019 chấp hành xong án phạt tù; Ngày 25/12/2019 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa x phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 24/8/2023 chấp hành xong án phạt tù), nhưng bị cáo kh ng lấy đó làm bài học mà còn tiếp t c dấn thân vào con đường phạm tội. Do đó, HĐXX x t thấy, cần x phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo d c đối với bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần vào c ng tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về xâm phạm quyền s hữu.
X t các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo kh ng có tình tiết tăng nặng TNHS
- Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành kh n khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: X t bị cáo kh ng có c ng ăn việc làm ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên kh ng áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 BLHS là phù hợp.
Về bồi thường thiệt hại: Cơ quan điểu tra đã x lý trả lại tài sản cho bị hại. Quá trình điều tra bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn M.
Về x lý vật chứng: Căn cứ Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01(một) đ i d p xốp màu đen có dòng chữ adidas;
+ 02(hai) mảnh gương vỡ kh ng rõ hình dạng, kích thước.
- Trả lại cho anh Lê Công D 01 xe máy ghi chữ DAEHANNIKD màu trắng, có dòng chữ WAVES kh ng có biển kiểm soát, số máy VZS139FMB 24003640, số khung RLPBCB7 UMJB003640;
- Án phí HSST bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Điểm a khoản 2, điểm khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố t ng hình sự;
- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và m c 1 phần I danh m c án phí lệ phí ban hành kèm theo;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Cướp giật tài sản”
Xử phạt: Nguyễn Văn M 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/6/2024.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01(một) đ i d p xốp màu đen có dòng chữ adidas;
+ 02(hai) mảnh gương vỡ kh ng rõ hình dạng, kích thước.
- Trả lại cho anh Lê Công D, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Th n A, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 01 xe máy ghi chữ DAEHANNIKD màu trắng, có dòng chữ WAVES kh ng có biển kiểm soát, số máy VZS139FMB 24003640, số khung RLPBCB7 UMJB003640;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp án phí hình sự sơ th m là 200.000 đồng.
Quyền kháng cáo: Án x c ng khai sơ th m có mặt bị cáo Nguyễn Văn M, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa v liên quan.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ th m (05/11/2024); Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Toà án niêm yết theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi nghĩa v liên quan được quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa v của mình kể từ ngày nhận được bản án hoặc Toà án niêm yết theo quy định của pháp luật.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a , 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Thị xã Bỉm sơn; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - CQĐT Công an thị xã Bỉm Sơn; - CQ Thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ Công an thị xã Bỉm Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ LQ; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Chi cục THA Dân sự TX Bỉm sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TỐNG THỊ HÀ |