vanban.org

Bản án 40/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 28/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V (Tên gọi khác là Bắc K) phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

Th i hạn chấp hành hình phạt tù được tính t ngày bị cáo bị tạm giam ngày 13/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền cho bị cáo Trần Văn V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn V (Tên gọi khác là Bắc K) phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày 28 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tuấn và ng Lý Khắc Chung

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nguyên Huân - Thư ký Toà án nhân dân huy n Ch u Phú, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Bà Trương Bảo Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Châu Phú, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn V (Tên gọi khác là Bắc K), sinh ngày 03 tháng 02 năm 1990, tại huy n Châu P, tỉnh An Giang; nơi đăng ký h khẩu thư ng tr và ch ở: ấp B, xã Bình M, huy n Châu P, tỉnh An Giang; nghề nghi p: không; trình đ văn hóa: 6/12; d n t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Vi t Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị Ngọc V; Chưa có vợ; Anh, em ru t có 07 ngư i, bị cáo là ngư i thứ ba; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn tạm giam t ngày 13/3/2024 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Ông Lê Minh Đ, sinh năm 2004, nơi cư tr : Khóm Bình N, thị trấn Cái D, huy n Ch u P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi ngh a v liên quan đến v án: Bà Trịnh Thị Cẩm N, sinh năm 1990, nơi cư tr : ấp B, xã Bình M, huy n Ch u P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Go Bin, sinh năm 1993, nơi cư tr : Khóm Bình N, thị trấn Cái D, huy n Ch u P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 gi ngày 07/02/2024, bị cáo V đi b đến khu vực khóm Bình Nghĩa, thị trấn Cái Dầu, huy n Ch u Ph , thì phát hi n nhà của ông Lê Minh Đ cửa nhà khép kh ng khóa, quan sát kh ng thấy ai, bị cáo V mở cổng rào đi vào phòng ngủ của ông Đ lấy tr m 01 đi n thoại di đ ng hi u Iphone 12 ProMax, 01 cái bóp da màu đen bên trong có 500.000 đồng. Sau khi lấy tr m, bị cáo V mang đi n thoại đến cửa hàng đi n thoại “Cẩm Nhung” do bà Trịnh Thị Cẩm N làm chủ bán với giá 1.600.000 đồng. Riêng ông Đ phát hi n tài sản bị mất tr m đã đến C ng an thị trấn Cái Dầu trình báo sự vi c.

Khi sự vi c bị phát hi n, bị cáo V đưa cho ông Đ số tiền 1.500.000 đồng (tiền do bán đi n thoại tr m) và 01 đi n thoại di đ ng của bị cáo V cho ông Đ bán được 1.000.000 đồng, ông Đ bỏ ra thêm 2.000.000 đồng, tổng c ng là 4.500.000 đồng để cho ông Đ đến cửa hàng đi n thoại của bà N chu c lại đi n thoại.

Ngày 13/3/2024, bị cáo V bị khởi tố, điều tra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL.HĐĐGTS ngày 20/02/2024 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n Ch u Ph , ghi nhận:

- 01 đi n thoại di đ ng Iphone 12 Promax màu đen (đã qua sử dụng, đang hoạt đ ng bình thư ng), trị giá 9.000.000 đồng.

- 01 cái bóp nam, loại da tốt màu đen, trị giá 50.000 đồng.

Tổng c ng: 9.050.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn V về t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Văn V khai nhận hành vi phạm t i của mình như n i dung Cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngư i làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với n i dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại di n Vi n kiểm sát luận t i đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức đ phạm t i, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự và nh n th n của ngư i phạm t i, đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn V t 09 (Chín) tháng đến 01 (M t) năm tù.

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo do hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

- Xử lý vật chứng: Kh ng xem xét giải quyết.

- Trách nhi m d n sự: Bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án kh ng yêu cầu nên kh ng xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hi n đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hi n đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngư i làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy tri u tập hợp l . Xét thấy, sự vắng mặt của họ kh ng g y trở ngại gì đến vi c xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015, H i đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về n i dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Văn V đều khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình như n i dung Cáo trạng đã nêu trên. L i khai nhận t i của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp l i khai của bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngư i làm chứng về th i gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, đ ng cơ phạm t i và hậu quả do t i phạm g y ra, bản kết luận định giá tài sản cùng các tang vật đã thu giữ, các tài li u chứng cứ khác được thu thập khách quan đ ng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 03 gi ngày 07/02/2024, tại khu vực khóm Bình Nghĩa, thị trấn Cái Dầu, huy n Ch u Ph , tỉnh An Giang, bị cáo Trần Văn V đã có hành vi lấy tr m tài sản của ng Lê Minh Đ gồm 01 đi n thoại di đ ng hi u Iphone 12 promax màu đen trị giá 9.000.000 đồng, 01 cái bóp da trị giá 50.000 đồng và số tiền 500.000 đồng, tổng c ng tài sản trị giá 9.550.000 đồng.

Hành vi phạm t i nêu trên của bị cáo V đã phạm t i “Tr m cắp tài sản”, t i phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù t 06 tháng đến 03 năm (t i phạm ít nghiêm trọng).

Hành vi phạm t i của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, x m phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngư i khác, g y mất trật tự trị an và an toàn trong xã h i. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ng a chung.

Xét tính chất, mức đ nghiêm trọng của t i phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự và nhân thân của ngư i phạm t i, H i đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo V là ngư i có đủ năng lực trách nhi m hình sự, bản th n nhận thức rõ hành vi lấy tr m tài sản của ngư i khác là vi phạm pháp luật nhưng v n cố ý thực hi n với mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, mua ma tuý sử dụng. Trước khi phạm t i bị cáo là ngư i có nh n th n xấu, đã bị Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Dầu, Tòa án nh n d n huy n Ch u Ph áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghi n bắt bu c, chứng tỏ bị cáo là ngư i rất coi thư ng pháp luật, kh ng biết ăn năn hối cải để hoàn lương.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã n p tiền, đi n thoại để bồi thư ng thi t hại, khắc phục hậu quả, phạm t i lần đầu và thu c trư ng hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là thành phần lao đ ng nghèo, khó khăn, trình đ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Đ y là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Bị cáo kh ng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hi n tại trên địa bàn huy n Ch u Phú các t i phạm về tr m cắp tài sản có chiều hướng gia tăng, đ y là nguyên nh n làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, vi c bu c bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã h i là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát tại phiên tòa để bu c bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có th i hạn m t th i gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành ngư i lương thi n, ngư i c ng d n có ích cho xã h i. Mức hình phạt tù có th i hạn mà đại di n Vi n kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức đ phạm t i mà bị cáo đã g y ra, đề nghị này được H i đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì ngư i phạm t i còn có thể bị phạt tiền t 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo kh ng có nghề nghi p và thu nhập ổn định, hi n điều ki n hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên H i đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với bà Trịnh Thị Cẩm N kh ng biết tài sản do bị cáo V bán là tài sản do phạm t i mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an huy n Ch u Ph kh ng truy cứu trách nhi m hình sự là có căn cứ.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Đ 01 đi n thoại di đ ng hi u Iphone 12 promax màu đen và số tiền 4.500.000 đồng (trong đó gồm có 2.000.000 đồng của ông Đ và 2.500.000 đồng của bị cáo V).

Ông Đ dùng số tiền 2.500.000 đồng của bị cáo V chi trả các khoản gồm: trả lại cho bà N tiền mua đi n thoại 1.600.000 đồng, khấu tr số tiền bị mất tr m 500.000 đồng và cái bóp trị giá 50.000 đồng, còn dư lại 350.000 đồng.

Đối với 01 cái bóp da trị giá 50.000 đồng kh ng truy tìm được nhưng bị cáo đã bồi cho bị hại số tiền 50.000 đồng.

Bị cáo kh ng yêu cầu ông Đ trả lại số tiền 350.000 đồng, ng Đ, bà N kh ng có yêu cầu gì khác nên về vật chứng H i đồng xét xử kh ng đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

. Trách nhi m d n sự:

Bị cáo kh ng yêu cầu ông Đ trả lại số tiền 350.000 đồng; ông Đ, bà N không yêu cầu bị cáo V bồi thư ng gì thêm nên H i đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V (Tên gọi khác là Bắc K) phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Văn V (Tên gọi khác là Bắc K) 09 (Chín) tháng tù.

Th i hạn chấp hành hình phạt tù được tính t ngày bị cáo bị tạm giam ngày 13/3/2024.

Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền cho bị cáo Trần Văn V.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án: Bu c bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án d n sự thì ngư i được thi hành án d n sự, ngư i phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án d n sự; th i hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án d n sự.

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án.

Đối với bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ