vanban.org

Bản án 40/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 30/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

357; Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017); Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu theo quy định tại Điều 155 của BLTTHS.

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Vi Văn Đ, sửa ản án sơ thẩm về hình Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Đ, Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T, Hoàng Văn P - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 357; Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017); Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu theo quy định tại Điều 155 của BLTTHS.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-PT
Ngày: 31/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trương Minh Tuấn

Các Thẩm phán:

Ông Lê Tự

Ông Đặng Kim Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà

Nẵng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 623/2023/TLPT-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối v i ị cáo Vi Văn Đ và các ị cáo khác về tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” do có kháng cáo của các ị cáo Vi Văn Đ, Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T, Hoàng Văn P và ị hại Phạm Đình T1 đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo kháng cáo:

1/ VI VĂN ĐỨC, sinh ngày 04/10/1998 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản

K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Thái; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn K và à Vi Thị H1; gia đình có 03 chị em, ị cáo là con thứ hai, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21/8/2018, ị Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ

An xử phạt 19 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. (Chấp hành xong hình phạt ngày 01/9/2019).

Bị cáo ị ắt ngày 18/4/2022 theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.

2/ PHẠM ĐÌNH HÙNG, sinh ngày 29/4/1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú:

Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình S và à Bùi Thị Đ1; gia đình có 03 chị em, ị cáo là con thứ hai. Có vợ là Hồ Thị T2 và 04 con (con l n nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo ị ắt ngày 21/10/2022, hiện đang ị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

3/ NGUYỄN SỸ T3, sinh ngày 26/11/1983 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú:

Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân xây dựng; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ L và à Bùi Thị P1; ị cáo là con duy nhất trong gia đình. Có vợ và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2003, ị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng

tù về tội “Cư p tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2005).

Bị cáo ị ắt ngày 24/11/2022 theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

4/ HOÀNG VĂN PHÚ, sinh ngày 11/11/1993 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú:

Thôn T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân xây dựng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn X và à Hồ Thị S1; gia đình có 03 anh em, ị cáo là con thứ a. Có vợ là Trần Thị B, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo ị ắt ngày 28/11/2022 theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn Đ: Bà Nguyễn Thị H2 – Trợ giúp viên

pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nư c thành phố Đ, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đình H: Ông Nguyễn Doãn H3 – Luật sư

Công ty L1. Địa chỉ: E N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Bị hại: Ông Phạm Đình T1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q,

huyện Q, tỉnh Nghệ An, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 28/12/2021, sau khi Vi Văn Đ uống rượu cùng v i Vi Văn

H4 tại nhà trọ số K B, thành phố Đà Nẵng, Vi Văn Đ nhờ anh Võ Văn Q chở Đ và H4 đến công trường của Q đang làm tại đường N ngủ lại để hôm sau làm công v i Q. Trên đường đi, Đ và H4 dừng lại ở dọc ờ kè đường N đi vệ sinh, thì Đ thấy một con dao (dài 17,9 cm, cán dao ằng nhựa màu đen, lưỡi dao ằng kim loại) ở dư i đất, Đ nhặt lên và ỏ vào túi áo khoác, sau đó cả a tiếp tục di chuyển về lán trại của Q. Khi đi ngang qua công trường của Phạm Đình T1 (trư c đây Đ làm công nhân tại công trình thu gom nư c thải đường N, thành phố Đà Nẵng do T1 làm chủ) đối diện nhà số I N, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, Đ nói Q dừng xe để Đ vào gặp T1 lấy tiền công thợ mà trư c đây T1 chưa trả cho Đ. Khi đến nơi, Đ gặp và gây sự v i Vi Văn N (là công nhân của T1). Thấy vậy, T1 đi đến nói Đ “đi ra khỏi chỗ làm, không đánh nhau ở đây”, sau đó Đ có chửi thề T1. Lúc này giữa T1 và Đ xảy ra xô xát v i nhau, T1 dùng tay phải tát vào vùng mặt ên trái của Đ một cái. Đ nói “mày muốn chết không”. Vừa nói xong Đ liền dùng tay phải rút con dao để trong túi áo khoác ên phải từ trư c, mũi dao hư ng về phía trư c, trong lúc T1 đang đứng đối diện Đ thì Đ liền đâm một nhát từ sau đến trư c, từ dư i lên trên trúng vào ngực trái của T1 và T1 hô lên “Ta bị thằng Đ đâm rồi”, đồng thời T1 đè tay cầm dao của Đ xuống nền khiến lưỡi đao ị gãy ra. Nghe T1 kêu thì Vi Văn N chạy đến đá vào chân, lưng của Đ, còn H4, Q và một số người khác chạy vào can ngăn kéo T1 và Đ ra. Q đưa Đ đi ra iển, sau đó quay lại đưa T1 đi cấp cứu, còn H4 thì đi về lại nhà trọ của H4.

Sau khi hai ên đã được can ngăn, thì Vi Văn N chạy về lán trại gần công

trình áo cho Phạm Đình H (là anh ruột của Phạm Đình T1) về việc T1 ị Vi Văn Đ dùng dao đâm ị thương nặng. H nghe vậy ực tức, nên cùng v i Nguyễn Sỹ T (là công nhân làm cho T1) chạy đến công trường thì không thấy Đ. H đang trong lúc tức giận, rủ T và Hoàng Văn P (là công nhân làm cho T1) tìm Đ đánh trả thủ, thì tất cả đều đồng ý. H lấy 03 cây túyp sắt (hình trụ tròn, rỗng hai đầu, dài 60cm, có tiết diện trung ình 0,05m) dùng để chống trụ ê tông đưa cho T và P. Sau đó H lấy một xe mô tô tại công trình (không rõ của ai) đưa T chở H và P đi tìm Đ dọc ờ iển hư ng về cầu T thì thấy Đ đang đi ộ trên ãi iển, đối diện v i khách sạn S2 địa chỉ G N, phường X, quận T. Đ thấy nhóm H nên ỏ chạy. Nhóm H đuổi theo Đ được một đoạn thì Đ ị vấp ngã. Lúc này, Đ đang trong tư thế ò về phía trư c thì ị H cầm tuýp sắt ằng tay phải đưa lên cao đánh từ trên xuống dư i liên tiếp 04 cái trúng vào vùng đầu và lưng của Đ. Do ị đau nên Đ nằm dư i đất dùng tay ôm đầu lại thì ị T cầm tuýp sắt ằng tay phải đưa lên cao đánh từ trên xuống dư i, từ phải qua trái đánh liên tiếp 03 cái trúng vào người và chân của Đ. Sau đó, H tiếp tục cầm tuýp sắt đánh thêm 01 cái trúng vào vùng đầu của Đ. Khi thấy Đ ị chảy máu ở đầu thì cả nhóm dừng lại và vứt 03 cây tuýp sắt tại ụi cây trên vỉa hè gần đó rồi ỏ đi. Còn Đ được người dân đưa đi cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 40 ngày 18/02/2022

của Trung tâm pháp y thành phố Đ kết luận thương tích của Phạm Đình T1 như sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương thấu ngực trái, xuyên thấu tâm

thất phải, gây tràn máu màng tim và màng phổi trái. Qua giám định, tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên là 54%.

- Cơ chế và vật gây thương tích: Tổn thương nêu trên là do ngoại lực tác

động trực tiếp. Vật gây thương tích phù hợp v i vật sắc nhọn gây nên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 27 ngày 07/02/2022

của Trung tâm pháp y thành phố Đ kết luận thương tích của Vi Văn Đ như sau:

- Chấn động não đã được điều trị ổn định, ị thương phần mềm ở khuỷu tay

và cẳng tay trái, các vết xây xát da nhỏ nằm rải rác ở vùng lưng và rách ở vùng trán và vùng đỉnh-chẩm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 08%.

- Tổn thương do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây thương tích phù hợp

v i vật tày gây ra.

Ngày 23/9/2022, Vi Văn Đ có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 142/KL-C09C(Đ3) ngày 16/02/2022 của

Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng kết luận: Trên lưỡi dao có máu người, do chất lượng dấu vết kém nên AND phân tích được không truy nguyên được đối tượng. Trên cán dao không có máu.

Tại Bản kết luận giám định số 143/KL-C09C(Đ1) ngày 21/02/2022 của

Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng kết luận: Cán và lưỡi của loại dao thông dụng, không phải là vũ khí.

Tang vật thu giữ:

- 01 cán dao màu đen (10,4x2)cm; 01 phần lưỡi dao (7,5x1,5)cm.

- 05 chiếc dép.

- 01 mũ ảo hiểm màu đen.

- 03 thanh kim loại hình trụ dài 0,6cm, rỗng ruột, có tiết diện trung ình

0,05m.

Từ những nội dung đã được xác định nêu trên, tại B n án hình s sơ

thẩm s

HS-ST ngày 11

của Tòa án nhân dân thành ph Đà Nẵng đã quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên ố ị cáo Vi Văn Đ phạm tội “Giết người”, ị cáo

Phạm Đình T1, Nguyễn Sỹ T, Hoàng Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 57 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vi Văn Đ: 12 (Mười hai) năm tù. Thời gian chấp hành

hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giam, ngày 18/4/2022.

2.2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm , e, i, s khoản 1, khoản 2 Điều

51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình H: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giam, ngày 21/10/2022.

2.3. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ

luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sỹ T: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giam, ngày 24/11/2022.

2.4. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51

Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn P: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giam, ngày 28/11/2022.

3. Về trách nhiệm ồi thường dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự

và Điều 591 Bộ luật dân sự:

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật

chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 11/11/2023 và ngày 15/11/2023, ị cáo Vi

Văn Đ, Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T, Hoàng Văn P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 13/11/2023, ị hại Phạm Đình T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ

hình phạt cho ị cáo Vi Văn Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các ị cáo Vi Văn Đ, Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T, Hoàng Văn P đều giữ

nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù. Người ị hại Vi Văn Đ rút yêu cầu khởi tố vụ án đối v i các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa

phát iểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đối v i kháng cáo của ị cáo Vi Văn Đ tại cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ m i, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ị cáo Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Đối v i các ị cáo còn lại tại phiên tòa người ị hại Vi Văn Đ đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định Điều 155, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự, Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao đề nghị: Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối v i phần xét xử các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P.

Người ào chữa cho ị cáo Vi Văn Đ trình ày: Tại phiên tòa hôm nay ị

hại Vi Văn Đ đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối v i các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; đối v i kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo Đ, ị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người ị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo, ị cáo là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình khó khăn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

Bị cáo Vi Văn Đ thống nhất v i trình ày của người ào chữa xin giảm nhẹ

hình phạt. Đối v i việc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối v i 03 ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P là hoàn toàn tự nguyện và đã có Đơn gửi cho Hội đồng xét xử.

Người ào chữa cho ị cáo Phạm Đình H trình ày: Người ị hại Vi Văn Đ

đã rút yêu cầu khởi tố vụ án đối v i cả 03 ị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P đều xin giảm nhẹ

hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội và tội danh các ị cáo: Khoảng 19 giờ 30 phút

ngày 28/12/2021, tại công trường xây dựng đối diện nhà số I N, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc chi trả tiền công thợ, Vi Văn Đ đã cầm 01 con dao (dài 17,9 cm, cán dao ằng nhựa màu đen, lưỡi dao ằng kim loại) ằng tay phải, mũi dao hư ng về phía trư c, đâm 01 nhát từ sau đến trư c, từ dư i lên trên trúng vào vùng ngực trái của anh Phạm Đình T1 gây thương tích 54%. Sau khi được mọi người can ngăn, anh T1 được đưa đi cấp cứu, Phạm Đình H (là anh trai của anh Phạm Đình T1) rủ Nguyễn Sỹ T, Hoàng Văn P cùng đi tìm Đ đánh trả thù. Khi đến khu vực đối diện khách sạn S N, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, thì gặp Đ đang đi ộ trên ãi iển. H, T, P đã sử dụng 03 cây tuýp sắt (hình trụ tròn, rỗng hai đầu, dài 60cm, tiết diện trung bình 0,05m) đánh vào vùng đầu, lưng của Đ gây thương tích 08%. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Vi Văn Đ tội “Giết người” v i tình tiết định khung “Phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự; các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T, Hoàng Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo Vi Văn Đ, thấy:

Hành vi của ị cáo Vi Văn Đ thể hiện tính côn đồ, xem thường tính mạng,

sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, ảnh hưởng xấu t i an ninh xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của ị cáo, hậu quả ị cáo gây ra, nhân thân của ị cáo, áp dụng đúng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt ị cáo 12 năm tù về tội “Giết người” là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, người ị hại Phạm Đình T1 tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt tù cho ị cáo Đ, ị cáo Vi Văn Đ đồng thời là người ị hại trong vụ án “Cố ý gây thương tích” cho rằng do ị ức xúc về hành vi của mình nên các ị cáo m i phạm tội nên đã rút toàn ộ yêu cầu khởi tố vụ án đối v i cả 03 ị cáo H, T và P trong đó có ị cáo H là anh ruột của người ị hại Phạm Đình T1; ị cáo là người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh gia đình khó khăn; do vậy, chấp nhận kháng cáo của ị cáo Vi Văn Đ về việc xin giảm nhẹ hình phạt tù, sửa Bản án sơ thẩm giảm cho ị cáo một phần hình phạt tù.

Xét kháng cáo các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P,

thấy: Tại phiên tòa người ị hại Vi Văn Đ đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối v i các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P; người ào chữa cho rằng ị cáo Vi Văn Đ đồng thời cũng là người ị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối v i các ị cáo H, T và P là hoàn toàn tự nguyện, đề nghị chấp nhận việc rút yêu cầu này của người ị hại; Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút yêu cầu khởi tố, hủy Bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối v i 03 ị cáo H, T và P. Xét thấy việc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự tại cấp phúc thẩm của người ị hại Vi Văn Đ là hoàn toàn tự nguyện; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 155, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự, Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người ị hại Vi Văn Đ, hủy Bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối v i phần xét xử các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P; đồng thời trả tự do cho các ị cáo tại phiên tòa phúc thẩm nếu các ị cáo H, T và P không ị giam giữ về tội nào khác. Việc hủy Bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, về xử

lý vật chứng, về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm đối v i ị cáo Vi Văn Đ không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo được chấp nhận nên các ị cáo Vi Văn Đ, Phạm Đình H,

Nguyễn Sỹ T, Hoàng Văn P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 155; điểm khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều

357; Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017); Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu theo quy định tại Điều 155 của BLTTHS.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Vi Văn Đ, sửa ản án sơ thẩm về hình

phạt tù như sau:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 54; Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Vi Văn Đ 11 (Mười một) năm tù về tội “Giết người”. Thời

gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giam, ngày 18/4/2022.

2. Chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và

Hoàng Văn P; chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người ị hại Vi Văn Đ đối v i các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P.

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của Tòa

án nhân dân thành phố Đà Nẵng và đình chỉ vụ án đối v i phần xét xử các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P về tội “Cố ý gây thương tích”, trả tự do cho các ị cáo Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T và Hoàng Văn P nếu các ị cáo không ị giam giữ về tội phạm khác.

2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, về xử lý

vật chứng, về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm đối v i ị cáo Vi Văn Đ không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí phúc thẩm: Các ị cáo Vi Văn Đ, Phạm Đình H, Nguyễn Sỹ T,

Hoàng Văn P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ