vanban.org

Bản án 40/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn anh Lê Thanh D.

Về con chung: Giao 01 con chung tên Lê Nguyễn Ái Ph, sinh ngày 24/5/2020. cho chị Nguyễn Thị Thu Th nuôi dưỡng. Anh Lê Thanh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu Th - Lê Thanh D tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn anh Lê Thanh D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/3/2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo

2. Bà Phan Thị Oanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 536/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 22/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 2003;

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Thanh D, sinh năm 1991;

Địa chỉ: 118/31 Nguyễn Công T1, phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu Th trình bày được tóm tắt như sau:

- Về hôn nhân: chị và anh Lê Thanh D tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, được Uỷ ban nhân dân (UBND) xã H, huyện P Hoà cấp giấy chứng nhận kết hôn số 34 ngày 24/6/2021. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 6/2022, nguyên nhân do anh D ghen tuông vô cớ và đánh đập chị. Kể từ đó, vợ chồng không sống chung, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với anh D.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Ái Ph, sinh ngày 24/5/2020. Từ ngày vợ chồng xa nhau con chung chị nuôi dưỡng nên ly hôn, chị xin nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

* Bị đơn anh Lê Thanh D vắng mặt nên không trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

+ Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng thủ tục tố tụng.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn anh Lê Thanh D; về con chung: giao 01 con chung tên Lê Nguyễn Ái Ph, sinh ngày 24/5/2020 cho chị Th nuôi dưỡng. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không giải quyết; về án phí: đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý thuộc thẩm quyền.

Việc giải quyết theo thủ tục vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Lê Thanh D được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án xét xử vắng mặt đương sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu Th và anh Lê Thanh D tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34, ngày 24/6/2021, là hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh D ghen tuông, đánh đập chị Th. Từ tháng 6/2022, chị Th và anh D không sống chung, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn là thuộc trường hợp mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Tòa án nhiều lần triệu tập anh D để lấy lời khai và hòa giải nhưng anh D không đến, điều này thể hiện anh D không có thiện chí hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Th và anh D đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th về việc xin ly hôn anh D.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Lê Nguyễn Ái Ph, sinh ngày 24/5/2020. Từ ngày vợ chồng xa nhau, con chung do chị Th nuôi dưỡng. Do đó, để con phát triển tốt về thể chất, tinh thần chấp nhận yêu cầu của chị Th giao con chung Phương cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Do đó, anh D không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị Thu Th không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

+ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

+ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn anh Lê Thanh D.

- Về con chung: Giao 01 con chung tên Lê Nguyễn Ái Ph, sinh ngày 24/5/2020. cho chị Nguyễn Thị Thu Th nuôi dưỡng. Anh Lê Thanh D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Nguyễn Thị Thu Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn; nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012772 ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T.

Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ