vanban.org

Bản án 40/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Anh Phạm Khánh D về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”.

2/ Xác định Anh Phạm Khánh D, sinh năm 2004. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 51/1 Hai Bà Trưng, Phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là cha đẻ của bé trai có tên dự kiến đặt là Phạm Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 24/8/2023 theo giấy chứng sinh số 3595, quyển số B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? 1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Anh Phạm Khánh D về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 40/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 30/5/2024
V/v:“Tranh chấp xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Chi

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Mai Phú;

+ Bà Đỗ Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 214/2024/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp xác định cha cho con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Khánh D, sinh năm 2004

Địa chỉ: Số 51/1 Hai Bà Tr, Phường N, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997

Địa chỉ: Số 51/1 Hai Bà Tr, Phường N, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Tuấn A1, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ 23, phường ĐP, thành phố LC, tỉnh LC.

(Anh D, chị Th có mặt tại phiên toà, Anh Tuấn A1 có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Anh Phạm Khánh D trình bày:

Vào năm 2017, Chị Nguyễn Thị Th và Anh Trương Tuấn A1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường phường ĐP, thành phố LC, tỉnh LC, trong quá trình chung sống cùng nhau thì có xảy ra mâu thuẫn và ly thân vào năm 2018. Trong thời gian ly thân và chờ làm thủ tục ly hôn thì Chị Nguyễn Thị Th và anh D có mối quan hệ tình cảm sau đó Chị Th mang thai con của anh D. Đến ngày 20 tháng 11 năm 2023 thì Chị Th và Anh Tuấn A1 được Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 81/2023/QĐCNTTLH.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023 Chị Th đã sinh con tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng, tên dự kiến đặt cho con là Phạm Nguyễn Duy Kh theo giấy chứng sinh số 3595, quyển số BH8/2023. Theo kết quả xét nghiệm ADN của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền GENLAB ngày 07 tháng 3 năm 2024, xác định giữa anh D và bé trai có tên dự kiến Phạm Nguyễn Duy Kh là con Chị Nguyễn Thị Th và anh D. Tuy nhiên bé Kh được sinh ra trong thời gian 300 ngày kể từ ngày Chị Th và Anh Tuấn A1 kết thúc hôn nhân nên anh D không làm được thủ tục khai sinh cho con nên anh D yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xác nhận cháu Khôi là con của anh D để anh D có thể được làm giấy khai sinh cho cháu Khôi theo quy định.

Bị đơn Chị Nguyễn Thị Th trình bày:

Chị Th và Anh Trương Tuấn A1 có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân phường ĐP, thành phố LC, tỉnh LC. Trong quá trình chung sống, Chị Th và Anh Tuấn A1 xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ năm 2018. Trong thời gian ly thân Chị Th có quan hệ tình cảm với Anh Phạm Khánh D và mang thai con của anh D. Đến ngày 20 tháng 11 năm 2023, Chị Th và Anh Tuấn A1 đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 81/2023/QĐCNTTLH của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình sống ly thân với Anh Tuấn A1 và đợi quyết định công nhận thuận tình ly hôn, Chị Th có sinh một bé trai vào ngày 24 tháng 8 năm 2023. Bé trai tên dự kiến: Phạm Nguyễn Duy Kh được sinh vào ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng sinh số 3595, quyển số BH8/2023. Theo kết quả xét nghiệm ADN của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền GENLAB ngày 07 tháng 3 năm 2024 xác định bé trai (tên dự kiến Phạm Nguyễn Duy Kh) là con của Anh Phạm Khánh D và Chị Th độ tin cậy > 99,9999%. Nay bé Kh chưa làm được Giấy khai sinh nên Chị Th đồng ý với yêu cầu của Anh Phạm Khánh D đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xác định bé trai có tên dự kiến là Phạm Nguyễn Duy Kh là con của Anh Phạm Khánh D để anh D và Chị Th có thể làm Giấy khai sinh cho cháu theo quy định.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan Anh Trương Tuấn A1 trình bày:

Anh Trương Tuấn A1 và Chị Nguyễn Thị Th đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân phường Đông Phong thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Trong thời gian chung sống Anh Tuấn A1 và Chị Th xảy ra mâu thuẫn nên đã ly thân vào năm 2018. Đến ngày 20/11/2023, Anh Tuấn A1 và Chị Th đã được công nhận thuận tình ly hôn theo quyết định số 81/2023/QĐCNTTLH của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Đến ngày 24/8/2023 Chị Th sinh bé trai (tên dự kiến Phạm Nguyễn Duy Kh) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng theo số 3595, quyển BH8/2023. Anh và Chị Th đã ly thân một thời gian dài và Chị Th mang thai trong thời kỳ ly thân nên việc Chị Th mang thai không phải con của anh. Mặt khác, anh cũng được Chị Th cung cấp giấy xét nghiệm ADN của bé (Phạm Nguyễn Duy Kh) và Anh Phạm Khánh D. Nên Anh Tuấn A1 xác định bé trai do Chị Th sinh vào ngày 24 tháng 8 năm 2023 không phải là con của anh. Nay anh D xin xác định bé Phạm Nguyễn Duy Kh là con anh D để làm giấy khai sinh. Anh Tuấn A1 không có tranh chấp hay ý kiến yêu cầu gì. Do bận công việc nên anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung đề nghị được vắng măt trong tất cả các buổi làm việc, trong tất cả các phiên hoà giải, phiên họp và xét xử tại Toà án.

Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải giữa các đương sự, nhưng do Anh Tuấn A1 vắng mặt nên không hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin xác định bé trai Phạm Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2023 là con của anh. Bị đơn chị Th đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, các đương sự và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D, xác định bé trai do chị Nguyễn Thị Th sinh ra có tên dự kiến Phạm Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 24/8/2023 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng sinh số 3595, quyển số BH 8/2023 là con của Anh Phạm Khánh D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

.Về thủ tục tố tụng: Xuất phát từ việc Anh Phạm Khánh D khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xác định bé trai (tên dự kiến Phạm Nguyễn Duy Kh) do chị Nguyễn Thị Th sinh ra vào ngày 24/8/2023 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng sinh số 3595, quyển BH8/2023 là con của anh D và hiện nay chị Th đang cư trú tại số 51/1 Hai Bà Trưng, Phường 6, Đà Lạt, Lâm Đồng nên căn cứ các quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có đủ cơ sở xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết là “Tranh chấp xác định cha cho con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Anh Trương Tuấn A1 vắng mặt, tuy nhiên Anh Tuấn A1 đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Anh Tuấn A1 theo đúng quy định.

. Về nội dung: Theo lời trình bày của các đương sự thì chị Nguyễn Thị Thvà Anh Trương Tuấn A1 là vợ chồng hợp pháp từ năm 2017. Trong quá trình chung sống, Chị Th và Anh Tuấn A1 xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ năm 2018. Trong thời gian sống ly thân chị Thđã có mối quan hệ tình cảm với Anh Phạm Khánh D và đã mang thai con của anh D. Ngày 24/8/2023 Chị Th sinh bé trai (tên dự kiến đặt là Phạm Nguyễn Duy Kh) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng sinh số 3595, quyển số BH8/2023. Cho đến ngày 20/11/2023, Anh Tuấn A1 và Chị Th mới được Toà án giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 81/2023/QĐCNTTLH của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng” nên về mặt pháp lý thì bé trai (tên dự kiến đặt là Phạm Nguyễn Duy Kh), sinh ngày 24/8/2023 theo giấy chứng sinh số 3595, quyển số BH8/2023 do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng cấp được chị Thsinh ra trong thời kỳ hôn nhân với Anh Tuấn A1 là con chung của chị Th và Anh Tuấn A1. Tuy nhiên, theo kết quả xét nghiệm ADN số 240523GL/ADN ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền GENLAB, kết luận “Phạm Khánh Duy có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Phạm Nguyễn Duy Kh (tên trên giấy chứng sinh: Con bà Nguyễn Thị Th), độ tin cậy > 99,9999%” (BL 31). Xét lời khai của các đương sự thống nhất với nhau và phù hợp với kết quả xét nghiệm ADN, vì vậy việc anh D yêu cầu Tòa án xác định bé trai do chị Thsinh ra vào ngày 24/8/2023 con của anh D là có cơ sở chấp nhận, nên căn cứ khoản 1 Điều 89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Phạm Khánh D.

. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh D được chấp nhận nên chị Thphải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 88; khoản 1 Điều 89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí;

Xử:

1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Anh Phạm Khánh D về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”.

2/ Xác định Anh Phạm Khánh D, sinh năm 2004. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 51/1 Hai Bà Trưng, Phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là cha đẻ của bé trai có tên dự kiến đặt là Phạm Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 24/8/2023 theo giấy chứng sinh số 3595, quyển số BH8/2023 do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 24/8/2023.

3/ Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Anh Phạm Khánh D số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000556 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ