vanban.org

Bản án 40/2024/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S đối với chị Nguyễn Thị Kim L1. Buộc chị Nguyễn Thị Kim L1 giao trả cho Công ty TNHH S tổng số tiền 17.472.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 15/8/2023 là 972.000 đồng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Công ty TNHH S - Nguyễn Thị Kim L"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/DS-ST
Ngày: 01-07-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng cầm cố
tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ghết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tâm

2. Bà Đỗ Kim Phụng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Kha, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Duy – Kiểm sát viên. Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 308/2023/TLST–DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH S

Địa chỉ: Số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An

Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Huỳnh Văn L, sinh năm 1984

Địa chỉ: 1, khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu

(Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 27/12/2022, Công ty TNHH S (gọi tắt là công ty) có ký hợp đồng cầm cố tài sản số GRM22120108NA19X với chị Nguyễn Thị Kim L1, theo đó công ty cầm cố 01 xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 94B1-603.88, loại xe Honda Vision110cc màu đỏ nâu đen, thời hạn cầm xe là 12 tháng, lãi suất 1.1%/năm, kỳ hạn trả nợ gốc và lãi trả cố định hàng tháng.

Công ty đã cầm cố xe với số tiền 16.500.000 đồng. Do có nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho chị Nguyễn Thị Kim L1 mượn lại xe sử dụng. Trong giấy mượn xe từ ngày 27/12/2022 đến ngày 27/01/2023 địa điểm trả xe là là tại chi nhánh Gía Rai. Quá trình làm việc chị L1 cam kết rõ trong giấy mượn xe “Hoàn trả đúng thời gian và địa điểm đã thoả thuận”.

Quá trình trả nợ, chị Nguyễn Thị Kim L1 chưa thanh toán đúng nghĩa vụ hợp đồng của công ty. Hiện nay chị L1 còn nợ lại công ty số tiền 23.479.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, lãi 972.000 đồng, phí 3.907.000 đồng; phí theo dõi 07 kỳ là 2.100.000 đồng).

Kể từ ngày cầm cố tài sản, chị Nguyễn Thị Kim L1 không trả nợ đúng hạn, phát sinh nợ quá hạn, vi phạm Hợp đồng cầm cố, công ty đã làm việc với chị Nguyễn Thị Kim L1 nhưng chị Nguyễn Thị Kim L1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 15/8/2023, chị Nguyễn Thị Kim L1 còn nợ số tiền: 23.479.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, lãi 972.000 đồng, phí 3.907.000 đồng; phí theo dõi 07 kỳ là 2.100.000 đồng).

Do chị Nguyễn Thị Kim L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký nên công ty yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim L1 trả số tiền 23.479.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, lãi 972.000 đồng, phí 3.907.000 đồng; phí theo dõi 07 kỳ là 2.100.000 đồng) và yêu cầu trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ, không yêu cầu thu lại xe.

Ngày 27/6/2024, đại diện của công ty có rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu trả số tiền 6.007.000 đồng (trong đó phí là 3.907.000 và phí theo dõi là 2.100.000 đồng). Công ty TNHH S yêu cầu chị L1 hoàn trả lại số tiền 17.472.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, lãi 972.000 đồng) và yêu cầu trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ.

- Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Kim L1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng nhưng triệu tập chị Nguyễn Thị Kim L1 tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng chị Nguyễn Thị Kim L1 vắng mặt không rõ lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 316 và 494 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty S đối với chị Nguyễn Thị Kim L1.

Buộc chị Nguyễn Thị Kim L1 giao trả cho Công ty S số tiền tổng số tiền 17.472.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 15/8/2023 là 972.000 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi dứt nợ.

Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu của Công ty S, yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim L1 giao trả số tiền 6.007.000 đồng (trong đó phí là 3.907.000 và phí theo dõi là 2.100.000 đồng). Án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị Nguyễn Thị Kim L1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Công ty TNHH S khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim L1 giải quyết tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Kim L1 cư trú tại ấp H, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải.

Đại diện Công ty TNHH S có đơn đề nghị vắng mặt. Chị Nguyễn Thị Kim L1 vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

Đại diện Công ty TNHH S có khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim L1 trả số tiền 23.479.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, lãi 972.000 đồng, phí 3.907.000 đồng; phí theo dõi 07 kỳ là 2.100.000 đồng) và yêu cầu trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ, không yêu cầu thu lại xe. Tuy nhiên đến ngày 27/6/2024 công ty có đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện rút lại yêu cầu đối với số tiền 6.007.000 đồng (trong đó phí là 3.907.000 và phí theo dõi là 2.100.000 đồng). Đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của công ty.

. Về nội dung:

Xét thấy, do chị Nguyễn Thị Kim L1 cố tình vắng mặt, xem như chị tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng. Vì vậy, Công ty S có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Công ty S cung cấp: Hợp đồng cầm cố; Phiếu đăng ký cầm cố xe máy; Giấy mượn xe; căn cước công dân; giấy chứng nhận đăng ký xe của chị Nguyễn Thị Kim L1.

Như vậy, căn cứ theo nội dung trong hợp đồng cầm cố xe và các giấy tờ nêu trên có đủ cơ sở để xác định vào ngày 27/12/2022 chị Nguyễn Thị Kim L1 có ký hợp đồng cầm cố chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 94B1-603.88, số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 000378 do công an tỉnh Bạc Liêu cấp, cầm cố cho công ty S với số tiền 16.500.000 đồng, lãi suất 1,1%/tháng. Đây là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản được quy định tại Điều 309 Bộ luật dân sự 2015, nên khi phát sinh tranh chấp được Bộ luật này Điều chỉnh. Công ty S chứng minh được việc chị L1 có cầm số xe cho công ty với số tiền 16.500.000đ, chưa trả được số tiền nào cho Công ty TNHH S. Chị L1 không thực hiện nghĩa vụ đúng hạn, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty. Do đó, Công ty TNHH S khởi kiện đối với chị L1 là có căn cứ.

Mặc dù các khoản nợ hiện nay đã quá hạn thanh toán nhưng bị đơn cũng không có thiện chí thanh toán nợ cho Công ty. Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Nguyễn Thị Kim L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH S số tiền theo hợp đồng tính đến ngày 15/8/2023 là 17.472.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, tiền lãi là 972.000 đồng). Chị Nguyễn Thị Kim L1 còn có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/8/2023 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo hợp đồng đã ký kết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim L1 phải nộp án phí số tiền 873.600 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 316 và 494 Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S đối với chị Nguyễn Thị Kim L1.

Buộc chị Nguyễn Thị Kim L1 giao trả cho Công ty TNHH S tổng số tiền 17.472.000 đồng (trong đó nợ gốc 16.500.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 15/8/2023 là 972.000 đồng)

Kể từ ngày 16/8/2023 chị Nguyễn Thị Kim L1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

2. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S đối với yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim L1 giao trả số tiền 6.007.000 đồng (trong đó phí là 3.907.000 và phí theo dõi là 2.100.000 đồng).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim L1 phải nộp án phí số tiền 873.600 đồng.

Công ty TNHH S1 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 586.000 đồng theo biên lai thu số 0009708 ngày 13/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải, được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.

4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ