vanban.org

Bản án 40/2023/HSST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phan Anh K, Nguyễn Hữu T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo Phan Anh K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2022. Bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T đang ngồi uống cafe tại quán cafe K3 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phan Anh K, Nguyễn Hữu T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật phí và lệ phí và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HSST
Ngày: 07/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy – Phó hiệu trưởng trường THCS Trần Quốc Tuấn;

2. Ông Huỳnh Công Nhân – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên

Trong ngày 07 tháng 04 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2023/HSST ngày 12/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXX-HS ngày 08 tháng 03 năm 2023, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Phan Anh K; giới tính: nam; sinh ngày 20/11/2006 tại Thành phố H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 54/2 đường T, Phường 3, Quận 4, Thành phố H; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông Huỳnh Công C, sinh năm 1984 và bà Phan Phương Thanh T, sinh năm 1985; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2022 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Nguyễn Hữu T; giới tính: nam; sinh ngày 18/07/2006 tại Thành phố H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 345/55 đường T, phường C, Quận 1, Thành phố H; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1983 và bà Hồng Kế A, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2022 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Đình Kh, sinh năm 1996; địa chỉ: 133/14 Đường số 12, phường Bình Hưng H, quận Bình T, Thành phố H.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Phan Anh K:

- Ông Huỳnh Công (là cha ruột), sinh năm 1984; địa chỉ: 57A đường T, Phường 3, Quận 4, Thành phố H.

- Bà Phan Phương Thanh T (là mẹ ruột), sinh năm 1985; địa chỉ: 57A đường T, Phường 3, Quận 4, Thành phố H.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hữu T:

- Ông Nguyễn Hữu H (là cha ruột), sinh năm 1983; địa chỉ: 345/55 đường T, phường C, Quận 1, Thành phố H.

- Bà Hồng Kế A (là mẹ ruột), sinh năm 1983; địa chỉ: 266/108/40 đường T, Phường 8, Quận 4, Thành phố H.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Phan Anh K: Bà Trần Đồng Minh Ngọc Kim Khánh; địa chỉ: 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T: Bà Lê Cẩm Phương; địa chỉ: 470 Nguyễn Tri Phương, Phường 9, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Công C, sinh năm 1984; địa chỉ: 57A đường T, Phường 3, Quận 4, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/10/2022 Nguyễn Hữu T đang ngồi uống cafe tại quán cafe K3, Quận 4, thành phố H, thì Phan Anh K điều khiển xe gắn máy hiệu Air Blade, màu xanh đen, biển số 59B1 – 561.79, đến quán, tại đây K rủ T qua Quận 7 tìm tài sản sơ hở để cướp giật thì T đồng ý. Sau đó K giao xe máy cho T điều khiển chạy qua Quận 7, tìm tài sản sơ hở để cướp giật. Khi đến trước địa chỉ nhà số 52, đường số 2, khu dân cư H, phường T, Quận 7, thành phố H, Phan Anh K phát hiện anh Nguyễn Đình Kh (sinh năm: 1996; HKTT: 48/20 đường H, phường B,Thị xã A, tỉnh Đ; tạm trú: 133/14 Đường số 12, phường Bình Hưng H, quận Bình T, Thành phố H) ngồi trên xe máy, hiệu Grande, màu xanh, mang biển số 77F1 – 292.65, tay cầm điện thoại Iphone 12, màu xanh lá. Lúc này, K nói T quay xe lại áp sát để thực hiện hành vi cướp giật. T quay xe vòng lại phía sau, áp sát Kh, K ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại; thấy K giật được điện thoại, T tăng gia bỏ chạy thì bị anh Kh tri hô cướp ... cướp, đuổi theo các đối tượng khi đến đầu hẻm 1041 T, đoạn bên hông cầu R, người dân nghe tiếng tri hô của anh Kh, đã hỗ trợ bắt giữ được K, T cùng tang vật giao Công an phường T, Quận 7 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận định giá tài sản số: 452/KL-HĐĐGTTHS ngày 01/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh lá, 64Gb; imei: 351672924552707 đã qua sử dụng, có giá trị 10.300.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Phan Anh K và Nguyễn Hữu T đã thừa nhận hành vi cướp giật tài sản của mình.

* Vật chứng vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh lá, 64Gb; imei: 351672924552707 đã qua sử dụng – là vật chứng bị can Phan Anh K và Nguyễn Hữu T cùng nhau cướp giật của anh Nguyễn Đình Kh đã bị hư hỏng;

- 01 (một) xe máy hiệu Air Blade, màu xanh đen, biển số 59B1 – 561.79 là phương tiện T và K sử dụng để đi cướp giật tài sản. Qua xác minh, xe do ông Huỳnh Công Cường (sinh năm 1984; địa chỉ: 422/22A phường An Lợi Đông, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 07/10/2022, ông Cường cho con trai mình là Phan Anh K mượn xe đi chơi, ông Cường không biết K dùng xe của mình để thực hiện hành vi cướp giật.

* Về dân sự:

- Điện thoại của anh Nguyễn Đình Kh sau khi bị cướp giật đã hư hỏng nặng, ông Kh đã nhận bồi thường số tiền 10.300.000 đồng, do bà Phan Phương Thanh T (mẹ ruột của Phan Anh K) và bà Hồng Kế A (mẹ ruột của Nguyễn Hữu T) bồi thường nên ông Kh không có yêu cầu gì khác; ông Kh tự nguyện viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị can. Đối với số tiền bồi thường 10.300.000 đồng, bà Thảo và bà Anh không yêu cầu các bị can bồi thường lại.

- 01 (một) xe máy hiệu Air Blade, màu xanh đen, biển số 59B1 – 561.79. Ông Huỳnh Công Cường yêu cầu được nhận lại tài sản.

Tại Bản cáo trạng số: 20/CT – VKSQ7 ngày 09/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Phan Anh K, Nguyễn Hữu T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Phan Anh K từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi chiếm đoạt tài sản phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt như trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa:

Luật sư Trần Đồng Minh Ngọc Kim Khánh bào chữa cho bị cáo Phan Anh K thống nhất với tội danh, điều luật Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 đề nghị Hội đồng xét xử quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Luật sư Lê Cẩm Phương bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T thống nhất với tội danh, điều luật Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện viện Kiểm sát có ý kiến tranh luận với luật sư Trần Đồng Minh Ngọc Kim Khánh và luật sư Lê Cẩm Phương: Các bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, các bị cáo đã thực hiện cướp giật chiếc điện thoại Iphone 12 có giá trị 10.300.000 đồng, do vậy không có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

Các luật sư vẫn giữ nguyên quan điểm bào chữa như trên, không tranh luận với đại diện viện kiểm sát.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, các luật sư, người có quyền lợi liên quan, người đại diện hợp pháp của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa kết hợp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ xét có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/10/2022, Phan Anh K rủ Nguyễn Hữu T chạy xe máy qua Quận 7 tìm tài sản sơ hở để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài và T đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe máy hiệu Air Blade màu xanh đen, biển số: 59B1 – 561.79 đến đón T. Khi đến trước địa chỉ: Số 52, Đường số 2, KDC H, phường T, Quận 7 phát hiện anh Nguyễn Đình Kh ngồi trên xe máy hiệu Grande màu xanh, biển số 77F1 – 292.65, tay cầm điện thoại Iphone 12, màu xanh lá. K nói T quay xe lại để thực hiện hành vi cướp giật, T quay xe vòng lại phía sau, áp sát ông Kh, K ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại. Sau khi K giật được chiếc điện thoại, T tăng ga bỏ chạy thì bị ông Kh tri hô “cướp….cướp” và đuổi theo các đối tượng. Khi đến đầu hẻm 1041 Trần Xuân Soạn, đoạn bên hông cầu Rạch Ông, người dân nghe tiếng tri hô của ông Kh đã hỗ trợ bắt giữ được K, T cùng tang vật giao Công an phường T, Quận 7 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 452/KL-HĐĐGTTHS ngày 01/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh lá, 64Gb; imei: 351672924552707 đã qua sử dụng, có giá trị 10.300.000 đồng.

Do vậy, hành vi của các bị cáo Phan Anh K, Nguyễn Hữu T đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, táo bạo và liều lĩnh. Các bị cáo phạm tội là do tham lam tư lợi để có tiền tiêu xài. Hành vi này là rất nghiêm trọng, nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân, gây hoang mang về mặt tinh thần cho người bị hại, gây mất trật tự trị an, an toàn giao thông đường bộ. Hành vi vừa điều khiển xe máy vừa cướp giật tài sản của người khác, sau đó nhanh chóng tẩu thoát khỏi sự truy đuổi là thủ đoạn phạm tội nguy hiểm có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phan Anh K, Nguyễn Hữu T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Ngoài ra bị cáo Phan Anh K thực hiện hành vi phạm tội khi đủ 14 tuổi, chưa đủ 16 tuổi và bị cáo Nguyễn Hữu T thực hiện hành vi phạm tội khi đủ 16 tuổi, chưa đủ 18 tuổi nên chưa nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ hành vi mà mình gây ra. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp.

Xử lý vật chứng vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh lá, 64Gb; imei: 351672924552707 của người bị hại ông Nguyễn Đình Kh. Xét, đây là tài sản của bị hại nên Hội đồng xét xử trả lại điện thoại cho ông Nguyễn Đình Kh;

- 01 (một) xe máy hiệu Air Blade, màu xanh đen, biển số 59B1 – 561.79 là phương tiện T và K sử dụng để đi cướp giật tài sản. Qua xác minh, xe do ông Huỳnh Công C, sinh năm 1984; địa chỉ: 422/22A phường A, Thành phốT, Thành phố H đứng tên chủ sở hữu. Ngày 07/10/2022, ông C cho con trai mình là Phan Anh K mượn xe đi chơi, ông C không biết K dùng xe của mình để thực hiện hành vi cướp giật. Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an Quận 7 đã trả lại xe cho ông C nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Đình Kh đã nhận số tiền bồi thường 10.300.000 đồng từ bà Phan Phương Thanh T (mẹ ruột của bị cáo Phan Anh K) và bà Hồng Kế A (mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Hữu T). Ông Kh không có yêu cầu gì khác và tại phiên tòa hôm nay vắng mặt Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của các bị cáo ông Huỳnh Công C, bà Phan Phương Thanh T, ông Nguyễn Hữu H, bà Hồng Kế A xác định không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại; không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không xét.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

7 Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Phan Anh K, Nguyễn Hữu T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt:

- Bị cáo Phan Anh K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2022.

- Bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2022

2. Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Trả lại cho ông Nguyễn Đình Kh 01 (một) cái điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh lá, 64Gb; imei: 351672924552707, được niêm phong trong bọc nylon màu trắng, có chữ ký của bị cáo Phan Anh K và mộc dấu của Công an phường T, Quận 7 (Cũ, không kiểm tra chi tiết máy bên trong).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 33 ngày 17/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7)

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ