- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HSST Ngày: 07/03/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tạo – Giáo viên
Ông Hoàng Văn Hạnh – Giảng viên
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Tăng Ngọc Kim Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 323/2022/HSST ngày 29/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân T - sinh ngày 21/11/2004 ( tính đến ngày phạm tội T mới 17 tuổi 10 tháng 08 ngày); Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã V1, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ; con bà: Nguyễn Thị P - Sinh năm 1985; Theo danh bản, chỉ bản số 488 do Công an quận Cầu Giấy lập ngày 07/10/2022; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Tạm giữ ngày 30/09/2022, Hủy quyết định tạm giữ ngày 08/10/2022. Bị bắt tạm giam ngày 14/02/2023 theo Lệnh tạm giam số 73 ngày 23/02/2023 của Công an quận Bắc Từ liêm, Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trần Thị B - Sinh năm 1960; HKTT: Cụm 13, Thôn V, xã V1, huyện T, thành phố Hà Nội (vắng mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa của bị cáo: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Trợ giúp viên Pháp lý
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh Hoàng Trường G - Sinh năm 1989; HKTT: Xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Do không có tiền tiêu xài, Nguyễn Xuân T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cho cá nhân. Khoảng 19 giờ ngày 29/9/2022, T đi bộ qua số nhà 139 Cầu Giấy, Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, thấy 01 chiếc tuốc nơ vít có tay cầm màu đen ở trên đường nên nhặt lên bỏ vào trong túi đeo chéo màu đen đang đeo với mục đích dùng để phục vụ cho việc trộm cắp tài sản. Sau đó, T đi bộ lang thang đến khuc vực Y mục đích xem có ai để xe máy sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 20 giờ 10 cùng ngày, T thấy trước số nhà 79 ngõ 381 N, phường Y, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội có 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29F9-8608 của anh Hoàng Trường G, dựng trước nhà, không ai trông giữ nên T lại gần dùng tay trái nắm vào tay lái còn tay phải nắm vào đuôi xe rồi đẩy xe máy đi. Đi được khoảng 500m, T dừng lại, dùng tuốc nơ vít phá mở ốc đầu xe, rút dây điện ở ổ khóa điện của xe, đạp cần khởi động nổ máy xe rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi tiêu thụ. T điều khiển xe máy di chuyển ra đường Cầu Giấy rồi lại rẽ vào đường N và tiếp tục đi đến đường N1. Khi T đang điều khiển xe máy đến khu vực trước số 23 N1, phường T1, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội thì nghe thấy có người hô “Trộm, cướp”. Lúc nảy, Đội Cảnh sát giao thông – Trật tự Công an quận Cầu Giấy đang làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông ở khu vực đoạn số nhà 23 đường N nghe có người hô nên đã cùng anh Hoàng Trường G giữ T lại và đưa T cùng chiếc xe máy trên về trụ sở Công an phường Y giải quyết. Cơ quan Công an thu giữ của T 01 túi đeo chéo màu đen (BL 29). Tại cơ quan Công an, Nguyễn Xuân T xin đầu thú, giao nộp 01 chiếc tuốc nơ vít có tay cầm màu đen là công cụ phạm tội và khai nhận hành vi như nêu trên (BL 63 - 78)
Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã tạm 01 túi đeo chéo màu đen của Nguyễn Xuân T; 01 tuốc nơ vít có tay cầm màu đen là công cụ phạm tội (BL 29).
Kết luận định giá tài sản số 407 ngày 30/09/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cầu Giấy kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 29F9-8608, SK: 1024276, SM: 1024276 có trị giá 6.900.000 đồng (BL 35).
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (từ BL 63 đến 78). Lời khai của bị cáo T phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về tang vật vụ án: Quá trình điều tra đã xác định được một túi đeo chéo màu đen của bị cáo T; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29F9-8608 của anh Hoàng Trường G, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho T và anh G. Bị cáo T và anh G đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Bản cáo trạng số 298/CT-VKS ngày 29/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Xuân T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 điều 38, điều 91 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Xuân T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự không phải giải quyết.
Người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo bà Nguyễn Thị Kim Dung trình bày: Căn cứ hồ sơ vụ án và quá trình điều tra vụ án xác định bị cáo Nguyễn Xuân T đã có hành vi “Trộm cáp tài sản”. Việc Viện Kiểm sát truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên xét khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên nhận thức có hạn, hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn, lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng. Vì vậy đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do vậy, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được, do vậy có đủ cơ sở xác định: Ngày 29/9/2022, tại khu vực trước cửa nhà số 79 ngõ 381 N, phường Y, Cầu Giấy, Nguyễn Xuân T có hành vi lén nút lấy 01 xe máy Honda Dream BKS: 29F9-8608 có giá trị 6.900.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện Kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác được luật pháp bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi có tội phạm xảy ra. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có nhận thức được hành vi và đường lối xử lý của pháp luật, nhưng vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để có tiền chi tiêu cho cá nhân.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xét bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi cần áp dụng điều 91 Bộ luật hình sự để xử bị cáo 1 mức án phù hợp với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên sau khi được tại ngoại, bị cáo lại có hành vi phạm tội mới thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần phải xử bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Tang vật đã được thu hồi trả người bị hại, anh G đã nhận tài sản và không yêu cầu gì nên Tòa án không xem xét. Chiếc tuốc nơ vít bị cáo nhặt được là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Xuân T với mức án từ 06 đến 09 tháng tù là có cơ sở.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người bị hại, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điều 38; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 91 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, nộp án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Xuân T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 30/09/2022, đến ngày 08/10/2022
Về dân sự và vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 tuốc nơ vít màu đen (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 85 ngày 28/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Cầu Giấy; - Chi cục THADS quận Cầu Giấy; - Bị cáo; Người bị hại, Người bào chữa - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lương |