vanban.org

Bản án 40/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HSST
Ngày 22-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Lệ Thy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Vui

Bà Nguyễn Kim Phụng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Võ Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/HSST ngày 17/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXX-HS ngày 08/6/2023 đối với bị cáo:

Vũ Văn Mạnh, sinh ngày 20 tháng 4 năm 2000, tại: Tỉnh Thanh Hoá; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sửa xe; Nơi thường trú: Ấp Tân L, xã Lộc Ph, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở hiện nay: Ấp Việt Q, xã Lộc Qu, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Vũ Văn Hà, sinh năm: 1965 (đã chết); Con bà: Trịnh Thị Thu, sinh năm: 1970; Bị cáo có 03 anh em lớn nhất sinh năm: 1991, nhỏ nhất là bị cáo. Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo Vũ Văn M bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Ninh.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

* Người bị hại: Ông Thái Dương C, sinh năm 1980

Nơi cư trú: Ấp Hiệp Hoàn, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

HKTT: Tổ 21, phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ, ngày 17/08/2022, Vũ Văn M đi bộ từ ngã ba trụ điện thuộc ấp Thắng Lợi, xã Lộc Phú giáp ranh với ấp Hiệp Hoàn, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh đi lòng vòng đường lô cao su phía sau các nhà dân để bắt trộm gà. Khi đến phía sau xưởng tôn Lộc Hiệp của anh Thái Dương C, sinh năm: 1980, thuộc ấp Hiệp Hoàn, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, M nhìn qua hàng rào lưới B40 thấy bên trong không có người mà có sân vườn nên nghĩ là có nuôi gà. M trèo qua hàng rào vào bên trong thì không thấy nuôi gà mà thấy phòng ở của vợ chồng anh C không khóa cửa và không có người bên trong. Lúc này, bị cáo nảy sinh ý định vào tìm tài sản sơ hở lấy trộm, M đẩy cửa vào bên trong thấy tủ nhựa bốn cánh (dạng tủ quần áo) để ở cạnh một bàn học sát cửa ra vào đang trong tình trạng khóa, thấy có chìa khóa để trên bàn, bị cáo liền lấy cắm vào mở cánh tủ bên phải phía dưới thì mở được. Khi mở tủ ra thấy bên cạnh quần áo có một túi nilong màu đen, bị cáo mở ra xem thì thấy có một cọc tiền lẻ loại tiền 2.000 đồng, 5.000 đồng và một cọc tiền chẵn loại tiền 50.000 đồng, 500.000 đồng và một điện thoại bàn phím Nokia đã cũ. Bị cáo lấy cọc tiền chẵn bỏ túi quần rồi ra ngoài trèo hàng rào đi bộ ra ngã ba trụ điện quá giang xe đi về nhà ông Phạm Minh Tâm, sinh năm: 1975, ngụ tại: Ấp Chàng Hai, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh để chuộc xe Yamaha Sirius biển số: 79U1-3866 mà bị cáo đã cầm trước đó với số tiền là 5.500.000 đồng. Bị cáo lấy tiền trong cọc tiền mới lấy trộm được ra trả tiền xe, rồi lấy xe đi vào đường bờ sông nơi không có người qua lại mang tiền ra đếm. Bị cáo đếm được số tiền còn lại là 104.500.000 đồng. Sau khi đếm tiền xong, sợ ở lại bị phát hiện, bị cáo điều khiển xe mô tô đi thẳng xuống thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 01 giờ ngày 18/08/2022, bị cáo thuê phòng ở một khách sạn thuộc quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh để nghỉ lại. Sau đó, bị cáo ở khách sạn và tiêu sài tiền lấy trộm được. Đến giữa tháng 01/2023 (giáp tết âm lịch) M tiêu sài hết số tiền lấy trộm được rồi chạy xe về nhà và đi làm thuê. Còn anh C sau khi bị mất trộm tiền đã đi trình báo Cơ quan Công an.

Đến ngày 31/01/2023, sau khi bán xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số: 79U1-3866 và tiêu xài hết tiền và biết mình không thể trốn tránh mãi nên Vũ Văn M đã đến Công an xã Lộc Hiệp đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với tang vật vụ án là số tiền 110.000.000 đồng mà bị cáo đã lấy trộm của anh Thái Dương C, do bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh không thu hồi được.

Tại bản cáo trạng số: 39/CTr-VKS ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo Vũ Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Vũ Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Vũ Văn M từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù.

- Về vật chứng của vụ án: Số tiền 110.000.000 đồng mà bị cáo lấy trộm của anh C, do bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Thái Dương C yêu cầu bị cáo Vũ Văn Mạnh bồi thường số tiền 110.000.000 đồng, mà Mạnh đã lấy trộm của anh C, ngoài ra không yều cầu gì thêm.

Đối với ông Phạm Minh Tâm được bị cáo M sử dụng số tiền 5.500.000 đồng trong tổng số tiền bị cáo lấy trộm để chuộc xe nhưng ông Tâm không biết số tiền này do bị cáo trộm cắp mà có, ông Tâm đã sử dụng hết không thu hồi được nên không xử lý.

Bị cáo không tranh luận, không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở khách quan để xác định:

Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 17/8/2022, tại xưởng tôn Lộc Hiệp của anh Thái Dương C, thuộc ấp Hiệp Hoàn, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, bị cáo Vũ Văn M đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà anh Thái Dương C để chiếm đoạt số tiền là 110.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Qua diễn biến tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận do công việc không ổn định, lười biếng lao động và không có tiền tiêu xài, bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo đi bộ từ ngã ba trụ điện thuộc ấp Thắng Lợi, xã Lộc Phú giáp ranh với ấp Hiệp Hoàn, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh đi lòng vòng đường lô cao su phía sau nhà các hộ dân để bắt trộm gà. Khi đến phía sau xưởng tôn Lộc Hiệp của anh Thái Dương C, thuộc ấp Hiệp Hoàn, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, bị cáo M trèo qua hàng rào vào bên trong thì không thấy nuôi gà mà thấy phòng ở của vợ chồng anh C không khóa cửa và không có người bên trong, thấy tủ nhựa bốn cánh để ở cạnh một bàn học sát cửa ra vào đang trong tình trạng khóa và có chìa khóa để trên bàn, bị cáo mở tủ và lén lút chiếm đoạt của anh C số tiền 110.000.000đ mà anh C cất giữ trong tủ.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là trộm cắp để có tiền tiêu xài.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo và đi đầu thú. Đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bổ sung năm 2017 là phù hợp nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Thái Dương C số tiền 110.000.000 đồng mà bị cáo đã lấy trộm của anh C.

Đối với ông Phạm Minh Tâm được bị cáo sử dụng số tiền 5.500.000 đồng trong tổng số tiền bị cáo lấy trộm để chuộc xe nhưng ông Tâm không biết số tiền này do bị cáo trộm cắp mà có, ông Tâm đã sử dụng hết số tiền trên không thu hồi được nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tính tù từ ngày 31/01/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 584; 585 và 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Vũ Văn M phải bồi thường cho bị hại anh Thái Dương C số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng).

Đối với khoản tiền bị cáo phải bồi thường nêu trên, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu số tiền 5.500.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm và phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Cỡ chữ