vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bùi Hiệp P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Nguyễn Bùi Hiệp P: 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bùi Hiệp P phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bùi Hiệp P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày: 15 - 02 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thế Hùng.

2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2023/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu:

+ Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

+ Điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Số 989 đường Đồng Văn Cống, phường B Trưng Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Bùi Hiệp P, sinh năm: 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: X ĐTN, khu phố B, phường A, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dương; nơi cư trú: X, KVC, Khu phố Y, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Bùi Tuấn H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em; vợ: Dương Thị Thùy T, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không.

Tiền sự :

- Ngày 26/12/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh B Dương ban hành Quyết định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng. Chấp hành xong ngày 26/4/2018.

- Ngày 14/12/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh B Dương ban hành Quyết định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng. Bị cáo chưa chấp hành.

Nhân thân:

- Ngày 18/7/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh B Dương xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2016, đã đóng án phí.

- Ngày 16/4/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản là xe mô tô, trị giá 214.500.000 đồng) theo Bản án số 38/2019/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2020, đã đóng án phí.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/8/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa đặt tại điểm cầu thành phần.

- Bị hại: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1979.

Địa chỉ: NTL, Phường X, quận B Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Dương Thị Thùy T, sinh năm 1997.

Thường trú: ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Chỗ ở hiện nay: X đường KVC, Khu phố Y, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Đỗ Thế B, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Đường X, khu phố Y, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Đ P, sinh năm 2005.

Địa chỉ: X, NTL, Phường Y, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/8/2022, Nguyễn Bùi Hiệp P cùng Dương Thị Thuỳ T đang ở Nhà số X, đường KVC, Khu phố Y, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì có bạn quen ngoài xã hội tên Khánh Mập (chưa rõ nhân thân lai lịch) và tên Su (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến chơi. Sau đó,T và Su ra tiệm trà sữa mua trà sữa, còn Khánh Mập ngồi tại phòng trọ nói cho P biết là trên đường đến nhà trọ của P thì Khánh P hiện 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 59S1 – 705.22 còn cắm chìa khóa trên ổ khóa đang dựng trước quán Trà sữa tại Số 42, đường Hiệp Bình, Khu phố 8, phường Hiệp B Chánh, thành phố Thủ Đức nên rủ P đi trộm cắp, thì P đồng ý. Khánh Mập chở P đi bằng xe mô tô của Khánh (chưa rõ loại xe và biển số xe), trên đường đi Khánh Mập có đưa cho P một bình xịt hơi cay, khi đến quán Trà sữa số 42, đường Hiệp Bình, Khu phố 8, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức thì Khánh Mập dừng xe lại và chỉ P chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Future, màu nâu, biển số 59S1 – 705.22 của anh Nguyễn Đ Phúc dựng trước quán, chìa khoá cắm trên xe. P nhìn thấy T và Su đang đứng mua trà sữa, P xuống xe đi lại chỗ T và Su đang đứng, nói chuyện với Su. Sau đó, P trả tiền trà sữa của T và Su mua, lợi dụng sơ hở của nhân viên, P đi lại gần xe mô tô dắt lùi trở ra, mở khoá, nổ máy và chạy xe ra hướng đường Phạm Văn Đồng, nhưng chạy được khoảng 10 mét thì bị anh Đỗ Thế B và một số quần chúng nhân dân phat hiện, truy hô và giằng co để bắt giữ P, P có sử dụng bình xịt hơi cay đã chuẩn bị trước xịt lại anh B và người đang bắt P nhằm để thoát thân nhưng không được. Su nhảy lên xe Khánh Mập chạy thoát, còn T thấy P bị bắt nên chạy lại hỏi sao mọi người bắt chồng T nên bị người dân giữ lại giao cho Công an phường.

Kết luận định giá tài sản số 279-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 08 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 59S1 – 705.22, trị giá 15.267.000 đồng.

Ngày 10/8/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Bùi Hiệp P về tội “Trộm cắp tài sản”.

Vật chứng vụ án:

- 01 B xịt hơi cay được quấn băng keo màu đen dài 15cm, đường kính 2cm;

- 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Future, màu nâu, biển số 59S1 – 705.22;

- 01 USB ghi hình ảnh.

Về trách nhiệm dân sự: 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Future, màu nâu, biển số 59S1-705.22 đã trả lại ông Nguyễn Xuân Đ (là cha của anh Nguyễn Đ Phúc) là chủ sở hữu xe mô tô trên; Anh Đỗ Thế B từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bối thường gì.

Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKSTP.TĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Bùi Hiệp P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bùi Hiệp P từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, hình ảnh camera, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/8/2022, Nguyễn Bùi Hiệp P cùng với người thanh niên tên Khánh Mập (chưa rõ lai lịch) đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Future, màu nâu, biển số 59S1 – 705.22 của ông Nguyễn Xuân Đ, trị giá 15.267.000 đồng, tại trước quán Trà sữa tại số 42, đường Hiệp B, Khu phố 8, phường Hiệp B Chánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi bị người dân P hiện truy bắt, P đã sử dụng B xịt hơi cay xịt vào mặt anh Đỗ Thế B để tẩu thoát nhưng đã bị bắt giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 15.267.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

Đối với Khánh Mập và Su (chưa rõ lai lịch) hiện đã bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Dương Thị Thùy T không bàn bạc và không biết P và Khánh Mập đi lấy trộm xe mô tô của người khác nên không có căn cứ xử lý hình sự về hành vi đồng phạm trộm cắp tài sản với P.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 15.267.000 đồng và bị cáo sử dụng B xịt hơi cay để nhằm mục đích tẩu thoát nên thuộc trường hợp “hành hung để tẩu thoát” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự..

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục nghiện ma túy và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Future, màu nâu, biển số 59S1 – 705.22, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã trả lại cho bị hại là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Đối với 01 B xịt hơi cay được quấn băng keo màu đen dài 15cm, đường kính 2cm là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 USB ghi hình ảnh chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bùi Hiệp P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bùi Hiệp P: 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Tịch thu tiêu hủy: 01 B xịt hơi cay được quấn băng keo màu đen dài 15cm, đường kính 2cm.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 20/QĐ-VKS ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK23/086C ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB ghi hình ảnh chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ