- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LĐ Bản án số: 40/2023/HS-ST Ngày: 07 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Trương Minh Thọ
+ Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân Th phố ĐL, tỉnh LĐ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Th phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân Th phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST - HS ngày 24/02/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức Th, sinh năm: 1994, tại: Thừa Thiên - Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế; nơi cư trú: Hẻm 48C Nguyễn Công Trứ, Phường 8, Th phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; dân tộc: Kinh; giới Th: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Đức T, sinh năm: 1968 và bà: Lê Thị H, sinh năm: 1971; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 12/4/2022.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Bảo V, sinh năm: 1996. Địa chỉ: 68 Đông Tĩnh, Phường 8, Th phố ĐL, Tỉnh LĐ.
2. Chị Nguyễn Vũ Phương Tr, sinh năm: 1991. Địa chỉ: 12 Đa Minh, Phường 5, Th phố ĐL, Tỉnh LĐ.
3. Chị Đào Thị Cẩm V, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Tổ 87 An Sơn, Phường 4, Th phố ĐL, Tỉnh LĐ.
4. Ông Trần Ngọc Th, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Tổ 24 Khu phố 2, Phường 11, Th phố ĐL, Tỉnh LĐ.
- Người làm chứng:
1. Ông Phạm Ngọc Th, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Số 47/5 Hoàng Diệu, Phường 5, Th phố ĐL, Tỉnh LĐ.
2. Anh Hồ Quốc D, sinh năm: 1993. Địa chỉ: Số 65B Nguyễn Công Trứ, Phường 8, Th phố ĐL, Tỉnh LĐ.
3. Anh Đỗ Th Tr, sinh năm: 1999. Địa chỉ: Số 53/3 Phước Th, Phường 7, Th phố ĐL, Tỉnh LĐ.
(Bị cáo có mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức Th là đối tượng sử dụng ma túy từ tháng 3/2022, do không có việc làm ổn định nên Th nảy sinh ý định đi giao ma túy để có tiền tiêu sài cá nhân. Th thường giao ma túy cho một người tên Trần Bảo V, sinh năm: 1996; Nơi thường trú: 68 Đông Tĩnh, Phường 8, TP ĐL, LĐ. Khi có người hỏi mua ma túy từ Th thì Th sẽ liên lạc với V để cùng V bán ma túy.
Lần thứ nhất: Khoảng tháng 3/2022, Hồ Quốc D, sinh năm: 1993; Nơi thường trú: 65B Nguyễn Công Trứ, Phường 8, TP ĐL liên hệ với Nguyễn Đức Th để mua ma túy gồm thuốc lắc và Ketamine với giá 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng). Sau đó, Th gặp Trần Bảo V để lấy ma túy rồi hẹn D đến giao ma túy tại khu vực nhà hàng Thảo Nguyên, Phường 8, TP ĐL; D chuyển tiền qua tài khoản số 096353040 Ngân hàng Quân đội MB Bank của Nguyễn Đức Th. Sau khi có ma túy D đem về nhà và sử dụng một mình. Còn số tiền bán ma túy cho D thì Th đưa cho V và được V cho 200.000 đồng, số tiền này Th đã tiêu xài cá nhân hết (BL: 315-317, 319, 320).
Lần thứ hai: Vào ngày 02/4/2022, Đỗ Th Tr, sinh năm: 1999; Nơi thường trú: 35/3 Phước Th, Phường 7, TP ĐL, sử dụng số điện thoại 0989.733.695 liên hệ vào số điện thoại 0963.530.40 của Nguyễn Đức Th để hỏi mua ma túy về sử dụng. Th đồng ý bán cho Tr 01 gói ma túy Ketamine và 02 viên thuốc lắc (MDMA) với giá 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Tr đã sử dụng cho bản thân hết (BL: 110-114).
Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 12/4/2022 Th đang ở nhà tại hẻm 48C Nguyễn Công Trứ, phường 8, TP ĐL, LĐ, thì có một người phụ nữ (không rõ họ tên, chổ ở) sử dụng số điện thoại 0785.888.67 liên hệ với Th hỏi mua 02 viên thuốc lắc (MDMA) và “nửa hộp” ketamine, Th đồng ý và báo giá số ma túy trên tổng cộng là 3.560.000đ (ba triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) thì người phụ nữ đồng ý. Sau đó, Th gọi cho V và nói có khách lấy 02 viên thuốc lắc và nữa hộp ketamine thì V đồng ý và hẹn Th đến ngã ba nhà hàng Thảo Nguyên, đường Lý Nam Đế, Phường 8, TP ĐL để lấy ma túy. Sau đó, Th đến điểm hẹn lấy ma túy, để trong gói thuốc lá 555 đi bán cho người phụ nữ. Người phụ nữ nói Th đến Trạm y tế Phường 5, TP ĐL để giao ma túy. Khi Th một mình đến đến lô F1-KQH Hoàng Diệu, Phường 5, TP ĐL và đang ngồi trên xe máy biển số 49B1-924.06 đợi người mua ma túy thì bị Công an Phường 5, TP ĐL kiểm tra. Do hoảng sợ, Th vứt gói thuốc lá có chứa ma túy xuống đất chỗ Th đứng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Tại đây, Nguyễn Đức Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình (BL: 39-44, 250-267).
* Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ:
+ 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “555” màu xanh, bên trong có đựng 01 gói nylon màu trắng trong dạng túi zip, miệng túi có đường chỉ màu đỏ, bên trong gói nylon này chứa 02 viên nén màu tím hình bầu dục nghi là ma túy, 01 gói nylon màu trắng trong, miệng túi có đường chỉ màu đỏ dạng túi zip, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, đã được niêm phong;
+ 01 thẻ Ngân hàng Quân đội MB Bank mang tên Nguyễn Đức Th số 19204775;
+ 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Đức Th;
+ 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015361 mang tên Trần Ngọc Th ;
+ 01 giấy phép lái xe số AY 379122 mang tên Nguyễn Đức Th;
+ 01 điện thoại di động, bàn phím màu đen đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0854407636;
+ 01 điện thoại I phone 11, màu đen đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 096353040.
+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblack màu đen xám đã qua sử dụng, số
khung RLHJFGS18KZ205055, số máy JFQ3E-2659203 (BL: 40-42).
* Tại kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 21/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ kết luận:
- Mẫu hai viên nén đựng trong một túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9728g (không phẩy chín bảy hai tám gam), loại MDMA.
MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 27, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
- Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,9158g (một phẩy chín một năm tám gam), loại Ketamin.
Ketamin là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT: 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (BL: 38).
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSĐL ngày 04/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Th phố ĐL truy tố bị cáo Nguyễn Đức Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức Th khai nhận, bản thân bị cáo có sử dụng ma túy và do không có công việc ổn định nên Th nhiều lần đi giao ma tuý cho một người tên V để được trả 200.000 đồng tiền công mỗi lần giao xong. Từ tháng 3 đến ngày 02 tháng 4 năm 2022, tại gần nhà hàng Thảo Nguyên, Phường 8 và tại ngã ba Phước Th Phường 7, Th phố ĐL, Th đã 02 lần bán ma túy cho D và Tr và được V cho số tiền 400.000 đồng. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/4/2022, có một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc với Th để mua ma tuý, Thanh gọi cho V lấy ma tuý và khi Th đang dừng xe đứng đợi tại tại khu quy hoạch Hoàng Diệu, Phường 5, Th phố ĐL để giao ma tuý thì bị Công an kiểm tra, do hoảng sợ nên Th vứt gói thuốc lá có chứa ma túy bên trong xuống đất nên bị phát hiện bắt quả tang như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại đối với cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đức Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Th từ 07 (bảy) đến 08 (tám) năm tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đả qua giám định; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại I phone 11, màu đen đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 096353040; Trả cho bị cáo 01 thẻ Ngân hàng Quân đội MB Bank mang tên Nguyễn Đức Th số 19204775; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Đức Th; 01 giấy phép lái xe số AY 379122 mang tên Nguyễn Đức Th và 01 điện thoại di động, bàn phím màu đen đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0854407636;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Th phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Th phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức Th: Nguyễn Đức Th là đối tượng sử dụng ma túy, do không có việc làm ổn định nên Th thường giao ma túy cho một người tên Trần Bảo V. Khi có người hỏi mua ma túy từ Th thì Th sẽ liên lạc với V để cùng V bán ma túy. Khoảng tháng 3/2022, Th bán thuốc lắc và Ketamine cho Hồ Quốc D, 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng). Ngày 02/4/2022, Th bán cho Đỗ Th Tr, 01 gói ma túy Ketamine và 02 viên thuốc lắc (MDMA) với giá 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 12/4/2022 Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49B1-92406 đến Lô F1-KQH Hoàng Diệu, Phường 5, TP ĐL để giao 02 viên thuốc lắc (MDMA) và “nửa hộp” ketamine cho một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá là 3.560.000đ (ba triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) thì bị Công an Phường 5, TP ĐL kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Th đang cất giữ ma túy. Th khai nhận số ma túy bị phát hiện bắt quả tang gồm 02 viên thuốc lắc và 01 gói chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy của Th lấy của V để bán cho người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá thỏa thuận 3.560.000 (ba triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng) nhưng chưa kịp giao.
Tại Kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 21/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ xác định: Mẫu hai viên nén đựng trong một túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9728g (không phẩy chín bảy hai tám gam), loại MDMA. Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,9158g (một phẩy chín một năm tám gam), loại Ketamin.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Đức Th là người đã trưởng Th có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo biết rõ việc mua bán phép chất ma túy để thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng sử dụng ma túy và để có tiền bị cáo vẫn nhiều lần thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Nguyễn Đức Th không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Đức Th phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 18/CT-VKSĐL ngày 04/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Th phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo Th khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự: Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng năng định khung theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng quy định.
Về hình phạt bổ sung: bản thân bị cáo không có công việc ổn định; số tiền bất chính thu được không phải là nguồn sống chính nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 400.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Trong vụ án này còn có đối tượng Trần Bảo V, sinh năm: 1996; Nơi thường trú: 68 Đông Tĩnh, Phường 8, TP ĐL, LĐ, Theo lời khai của Th thì V đã nhiều lần đưa ma túy cho Th đi bán. Tuy nhiên, qua xác minh Trần Bảo V không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì. Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm đối với Trần Bảo V, và tiếp tục tiến hành xác minh, điều tra làm rõ hành vi của Trần Bảo V để xử lý theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Th phố ĐL kiểm tra điện thoại di động của Th, phát hiện số điện thoại 0785.888.67 có chủ thuê bao là Nguyễn Vũ Phương Tr. Quá trình điều tra Tr trình bày chủ thuê bao số điện thoại trên do Tr đứng tên nhưng đã bị mất vào ngày 10/3/2022, Tr không liên quan đến việc gọi điện, nhắn tin để mua ma túy của Th, tiến hành đối chất thì Th khai nhận không quen biết gì với Tr. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong vụ án này.
Đối với Hồ Quốc D, sinh năm: 1993; địa chỉ thường trú: 65B Nguyễn Công Trứ, Phường 8, TP. ĐL, là người đã mua ma túy của Th, số ma túy mua của Th thì D đã sử dụng hết nên không thu giữ được. Cơ quan CSĐT Công an Th phố ĐL đã thông báo hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của D về địa phương để tiến hành quản lý theo quy định.
Đối với Đỗ Th Tr, sinh năm: 1999; nơi thường trú: 35/3 Phước Th, Phường 7, TP. ĐL, là người đã mua ma túy của Th, số ma túy mua của Th thì Tr đã sử dụng hết nên không thu giữ được. Cơ quan CSĐT Công an Th phố ĐL đã thông báo hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Tr về địa phương để tiến hành quản lý theo quy định.
Việc Nguyễn Đức Th sử dụng zalo để liên lạc với tài khoản Zalo “Bố Bom”, “Quốc Huy”, “Ngáo”, “caominhhoang”, “DJPO” có nội dung nghi vấn liên quan đến hoạt động phạm tội về ma túy thì quá trình điều tra Th khai nhận không rõ nhân thân, lai lịch, cũng như không có số điện thoại nên ứng dụng zalo không hiện thông tin của các zalo trên. Tại Công văn số 898/2022/CV-VNG ngày 30/9/2022 của Công ty cổ phần VNG về việc không thể xác định, kiểm tra và hỗ trợ cung cấp thông tin đối với các tài khoản Zalo trên nên không có đủ cơ sở điều tra truy xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “555” màu xanh, bên trong có đựng 01 gói nylon màu trắng trong dạng túi zip, miệng túi có đường chỉ màu đỏ, bên trong gói nylon này chứa 02 viên nén màu tím hình bầu dục và 01 gói nylon màu trắng trong, miệng túi có đường chỉ màu đỏ dạng túi zip, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng. Qua giám định đều xác định là chất ma túy, là chất cấm lưu hành, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Thu giữ 01 điện thoại I phone 11, màu đen đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 096353040, là phương tiện bị cáo Th dùng để liên lạc giao dịch mua bán ma túy nên tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 thẻ Ngân hàng Quân đội MB Bank số 192047 mang tên Nguyễn Đức Th 750; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Đức Th; 01 giấy phép lái xe số AY 379122 mang tên Nguyễn Đức Th; 01 điện thoại di động, bàn phím màu đen đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0854407636, xét thấy không liên quan đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
+ Riêng 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblack màu đen xám chiếc xe máy AIRBLADE biển số 49B1-92406 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 49B1-48214 mang tên Trần Ngọc Th, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Th phố ĐL đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đào Thị Cẩm V và anh Trần Ngọc Th, xét thấy không liên quan đến việc giải quyết vụ án nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Th 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù Th từ ngày 12/4/2022.
2. Về xử lý vật chứng:Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu tiêu hủy tang vật gồm:
- 01(một) phong bì niêm phong số: 395/2022-PC09. Mặt trước phong bì ghi vụ Nguyễn Đức Th - 1994; HKTT: phú mỹ, Phú Vang, TT Huế. QĐTC: số 154/QĐ-ĐCSMT; 13/4/2022. Bao gói. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Phạm Thị Dung; Lại Thanh Anh Toàn; Trần Vũ Y V, đóng dấu tròn, đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh LĐ.
- 01(một) phong bì niêm phong số: 395/2022-PC09. Mặt trước phong bì ghi vụ Nguyễn Đức Th - 1994; HKTT: phú mỹ, Phú Vang, TT Huế. QĐTC: số 154/QĐ-ĐCSMT; 13/4/2022. M1: 0,3608 (g), M2:1,5502 (g). Mặt sau có chữ ký, họ tên của Phạm Thị Dung; Lại Thanh Anh Toàn; Trần Vũ Y V, đóng dấu tròn, đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh LĐ.
2.2. Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen đã qua sử dụng của bị cáo Th (đã được niêm phong)
2.3. Trả cho bị cáo:
- 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Đức Th.
- 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức Th.
- 01 (một) thẻ Ngân hàng MB mang tên Nguyễn Đức Th.
- 01 (một) điện thoại di động dạng bàn phím màu đen đã qua sử dụng (đã được niêm phong).
(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 11/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Th phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự Th phố ĐL).
2.4. Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng) để sung ngân sách Nhà nước
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Đức Th phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể tự ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LĐ (02); - Sở Tư pháp tỉnh LĐ; - VKSND tp. ĐL; - Công an tp. ĐL; - Nhà tạm giữ Công an tp. ĐL; - Chi cục THADS tp. ĐL; - Bị cáo; người liên quan; - Lưu: bộ phận lưu trữ; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Huyền |