vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 08/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc L cho Ủ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — ""Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày 08 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Ánh Hoa

Ông Nguyễn Văn Nhi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Đa - Kiểm sát viên.

Các ngày 07 và 08 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 20/10/1999; tại Cà Mau; nơi cư trú: Hẽm 4, khóm X, phường Y, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Đặng Thị L; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 24/11/2022 cho đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 25 phút ngày 06/9/2022, Tổ công tác 21 thuộc Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính công an tỉnh Cà Mau đang tuần tra kiểm soát trật tự an toàn giao thông trên tuyến đường Châu Văn Liêm, đoạn phường 9, thành phố Cà Mau thì phát hiện Nguyễn Ngọc L điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 69N1-505.74 có dấu hiệu vi phạm trật tự giao thông nên dừng phương tiện của L kiểm tra phát hiện giấy phép lái xe hạng A1, Số 950198017663, tên Nguyễn Ngọc L do Sở giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 15/5/2019 là giả nên tạm giữ. Đồng thời lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ xe mô tô của L.

Tại Bản kết luận giám định số 311/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau giám định “Giấy phép lái xe hạng A1, Số 950198017663 tên Nguyễn Ngọc L, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 15 tháng 5 năm 2019” kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE/DRIVER’S LICENSE” hạng A1, Số 950198017663 tên Nguyễn Ngọc L, ngày 15 tháng 5 năm 2019 (Ký hiệu A) là giả.

Quá trình điều tra Nguyễn Ngọc L khai nhận: Năm 2019 (không nhớ rõ thời gian), L đi làm thuê bằng nghề thợ hồ tại tỉnh Long An có quen biết người bạn thợ hồ làm chung (không nhớ tên và địa chỉ) cho số điện thoại người thanh niên làm giả giấy phép lái xe (không nhớ số điện thoại). Do chưa có giấy phép lái xe hạng A1 nên L gọi điện thoại đặt làm giả giấy phép lái xe hạng A1 thì được người làm giả đồng ý với số tiền 2.000.000 đồng. Người làm giả yêu cầu L gửi bản phôtô giấy chứng minh nhân dân và ảnh chụp chân dung 3x4cm, gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh cho người làm giả giấy phép lái xe. Khoảng 02 tuần sau, có một thanh niên mang giấy phép lái xe giả hạng A1, số: 950198017663, tên Nguyễn Ngọc L đến công trình xây dựng tại tỉnh Long An giao cho L. L nhận giấy phép lái xe giả và trả cho thanh niên số tiền 2.000.000 đồng. L cất giữ giấy phép lái xe giả để sử dụng đến khi bị phát hiện.

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật thà khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội. Xe mô tô mang biển kiểm soát 69N1-505.74 là do ông Lê Văn Cò trú tại ấp Vườn Tre, xã Khánh Lộc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đăng ký sở hữu. Xe này L mua tại tiệm cầm đồ thuộc phường 4, thành phố Cà Mau nhưng không nhớ rõ tên bản hiệu, địa chỉ cụ thể với giá 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), L sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên.

Vật chứng trong vụ án: Giấy phép lái xe giả hạng A1, Số 950198017663 tên Nguyễn Ngọc L, đã được niêm phong đưa vào hồ sơ vụ án. Đội cảnh sát giao thông công an thành phố Cà Mau đã giao trả lại xe mô tô biển kiểm soát 69N1-505.74 cho L.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố Nguyễn Ngọc L về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Ý kiến của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và yêu cầu xin hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc L khai nhận: Vào lúc 20 giờ 25 phút, ngày 06/9/2022, Nguyễn Ngọc L đang điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 69N1-505.74 trên đường Châu Văn Liêm, Phường 9, thành phố Cà Mau thì bị lực lượng Tổ tuần tra 21 Công an tỉnh Cà Mau kiểm tra hành chính phát hiện L sử dụng giấy phép lái xe hạng A1 số 950198017663, tên Nguyễn Ngọc L do Sở giao thông vạn tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 15/5/2019 là giả nên lập biên bản thu giữ. Quá trình điều tra, L khai nhận nhờ người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) làm giả giấy phép lái xe với giá 2.000.000 đồng. Bị cáo cất sử dụng cho đến khi bị phát hiện thu giữ. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên đã phạm vào tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ pháp luật.

[3] Hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả của bị cáo Nguyễn Ngọc L là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước về tài liệu, con dấu, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan chức năng trong Nhà nước. Bản thân bị cáo biết sử dụng giấy phép lái xe giả là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì muốn có giấy phép lái xe mà không phải thi sát hạch nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo bị tai nạn giao thông bị khuyết họp sọ một bên, bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, cha mẹ đi làm ăn xa, bị cáo sống chung với dì ruột phải làm thuê (xác nhận của chính quyền địa phương). Ngoài ra, bị cáo có trình độ học vấn thấp 3/12 nên hạn chế về nhận thức pháp luật. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo về địa phương giám sát, giáo dục bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 Giấy phép lái xe giả hạng A1, số 950198017663 tên Nguyễn Ngọc L do Sở giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 15/5/2019, đã được niêm phong đưa vào hồ sơ vụ án.

[6] Đối với người làm giả giấy phép lái xe hạn A1 cho L (không biết nhân thân và địa chỉ) nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi có căn xử lý xử lý sau là phù hợp.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc L cho Ủy ban nhân dân phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập do bị cáo làm thuê, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Bị cáo còn phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

2. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ