- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS-ST Ngày: 16 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Quảng.
Ông Phạm Mã Siêu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm : Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần : Trụ sở Công an nhân dân huyê ̣n Tiền Hải , tỉnh Thái Bình . Xét xử sơ thẩm trực tuyến , công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/ TLST - HS, ngày 25 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST - HS, ngày 02 tháng 6 năm 2023, đối với:
Bị cáo: Trần Văn K- sinh ngày 09/10/1990, tại: huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú tại: thôn M.Đ, xã Đ.T, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giớ i tinh: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn
́
hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn S và bà Vũ Thị B; có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con, lớ n sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2015, bị UBND huyện Thanh Trì, Hà Nội áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện, năm 2017 chấp hành xong; Năm 2018 bị Công an xã Đông Trung, huyện Tiền Hải xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình phạt tiền; Bản án số 17/2019/HSST, ngày 10 tháng 4 năm 2019 của TAND huyện Tiền Hải, xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến ngày 16/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm gữi Công an huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
(Trích xuất có mặt tại phiên tòa)
Ngườ i làm chứng:
- Ông Đỗ Xuân R- sinh năm 1969. Địa chỉ: thôn Q.Đ, xã Đ.Q, huyện
Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
(Vắng mă ̣t)
- Ông Đỗ Thanh B- sinh năm 1958. Đi ̣a chỉ: thôn Ô.N, xã Đ.Q, huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
(Vắng mă ̣t)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử du ̣ng ma túy nên khoảng 17 giờ , ngày 10/3/2023 bị cáo Trần Văn K đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực đê sông Trà Lý thuô ̣c thôn T.L, xã Đ.Q, huyê ̣n Tiền Hải để tim mua ma túy về sử dụng. Tại
̀ đây, K gă ̣p mô ̣t ngườ i đàn ông , K không biết tên , tuổi, địa chỉ ở đâu , do nhin
̀ ngườ i này giống người nghiê ̣n ma túy nên K hỏi mua ma túy thì ngườ i này đồng ý. K đưa cho người này số tiền 300.000đ (ba trăm nghin đồng), nhâ ̣n tiền của K,
̀ ngườ i này đưa cho K một gói được gói bằng giấy tráng kim màu vàng. K mở ra xem thấy bên trong chứa 03 (ba) gói đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Biết đây là ma túy nên K nhâ ̣n rồi cất vào t úi quần bên trái phia trướ c
́ đang mă ̣c và đi về . Khi K đi đến khu vực cống Kéo thuô ̣c địa phận thôn T.L, xã Đ.Q, huyê ̣n Tiền Hải thì bị Công an huyê ̣n Tiền Hải phát hiện bắt quả tang. Công an huyện Tiền Hải đa yêu cẫ
̀u K và mời những ngườ i làm chứ ng về tru ̣ sở UBND xã Đ.Q làm việc. Tại đây, trướ c sự chứ ng kiến của đa ̣i diê ̣n Công an xã Đ.Q và những người làm chứng , K đa tự̃ giác lấy ở túi quần bên trái phía trước đang mă ̣c r a 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu vàng mở ra bên trong chưa 03 (ba) gói đều được gó i bằng giấy tráng kim màu trắng, trong cùng đều chứ a chất bô ̣t da ̣ng cu ̣c màu trắng giao nô ̣p cho cơ quan Công an và khai nhâ ̣n đây là ma túy K mua về để sử du ̣ng cho bản thân . Công an huyê ̣n Tiền Hải đa ̃ lâ ̣p biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang , biên bản quản lý , niêm phong gói ma túy nêu trên. Cùng ngày Công an huyện Tiền Hải khám xét khẩn cấp nơi ở của K tại thôn M.Đ, xã Đ.T, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình nhưng không phát hiê ̣n thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 339/KL - KTHS ngày 13/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy loại heroine, khối lượng 0,2734 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn K thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 44/CT - VKSTH ngày 25/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 10/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo.
Bị cáo, không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng. Bị cáo khai: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 10/3/2023, tại khu vực cống Kéo thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n thôn T.L, xã Đ.Q, huyê ̣n Tiền Hả i, Công an huyê ̣n Tiền Hải phát hiê ̣n, bắt quả tang bị cáo Trần Văn K tàng trữ trái phép 03 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,2734g trong túi quầ n bên trái p hía trước đang mă ̣c vớ i mu ̣c đich để sử dụng cho bản
́ thân.
Lời khai nhận tội và hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyê ̣n Tiền Hải , tỉnh Thái Bình lập ngày 10/3/2023; Các biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyê ̣n Tiền Hải , tỉnh Thái Bình lập ngày 10/3/2023; Biên bản khám xét nơi ở của bị cáo do Công an huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình lập ngày 10/3/2023; Bản kết luận giám định số: 339/KL - KTHS ngày 13/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người chứng kiến Đỗ Văn R, Đỗ Thanh B.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; viê ̣c sử du ̣ng ma túy gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của người sử dụng, làm cho ngườ i sử du ̣ng bi ̣ lê ̣ thuô ̣c vào chất ma túy , dẫn đến suy kiệt kinh tế gia đình. Việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý là nguyên nhân làm phát sinh các tai tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp giật, …, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã hội như HIV/AIDS. Hiện nay, tệ nạn hút trích ma tuý đang là gánh nặng cho nhiều gia đình và xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi hình sự. Mặc dù nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích thoả mãn cơn nghiện, bị cáo đã cố ý phạm tội, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi pha ̣m tô ̣i đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính, kết án.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mứ c đô ̣ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo nhâ ̣n thứ c được tác ha ̣i của ma túy nhưng vẫn sử dụng ma túy, nhân thân xấu từng bị xử phạt hành chính, kết án nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi mà tiếp tục phạm tội. Vì vâ ̣y cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như góp phần chung vào công tác răn đe, phòng ngừa tội phạm ma túy.
Bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, bản thân lại nghiện ma túy do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong vụ án này còn có 01 người nam giớ i bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực đê thôn T.L, xã Đ.Q. Do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra, xác minh làm rõ người bán ma túy cho bi ̣ cáo để xử lý theo pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Số ma tuý hoàn lại sau giám định 0,2279 gam Heroine cùng bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vâ ̣t giám định số 339/KL - KTHS. Đây là chất gây nghiện nhà nước cấm lưu hành cùng bao gói liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp quy đi ̣nh ta ̣i Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Văn K 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/3/2023.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,2279 gam Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vâ ̣t giám đi ̣nh số 339/KL - KTHS.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2023)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| *Nơi nhận: - VKSND huyện Tiền Hải; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - THA Dân sự huyện Tiền Hải; - CA huyện Tiền Hải; - Nhà tạm giữ CA h. Tiền Hải; - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử Vũ Văn Quảng Phạm Mã Siêu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |