vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 07/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Đe dọa giết người”.

Xử phạt: Nguyễn Văn D 48 (Bốn mươi tám ) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam 04/4/2022. Bị cáo, người bị hại người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại người có quyền kháng cáo bản án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội " Đe dọa giết người" - phạm tội đe dọa giết người (điều 133 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Đe dọa giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 133 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày 07/7/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang Huy và ông Hoàng Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số40/2022/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 6 năm 2023; đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D; Sinh năm1994; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn Cổ Châu, xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn Phúc và con bà Nguyễn Thị Hương; Không có anh chị em ruột. Chưa có vợ và có 01 con, sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/10/2011 bị TAND huyện Gia Lâm, TP Hà Nội xử 5 năm tù về tội Cướp tài sản. Ngày 28/10/2011 TAND huyện Tiên Du, Bắc Ninh xử 7 năm 6 tháng tù về tội Cướp tài sản. Tổng hình phạt là 12 năm 6 tháng tù giam, chấp hành xong ngày 23/8/2019. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/1/2023 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an TP Hà Nội

- Người bị hại:

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971;

HKTT: Thôn Cổ Châu, xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội.

Cháu Lê Trang A; Sinh ngày 03/8/2021. Người đại diện theo pháp luật của cháu là chị Lê Hồng Ph; Sinh năm 1997; Trú tại thôn An Hòa, xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Trang Anh là ông Bùi Đức H - Trợ giúp viên Văn phòng trợ giúp pháp lý số 6, thành phố Hà Nội.

Bị cáo, bà H, ông H có mặt; chị Ph vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D và chị Lê Hồng Ph có quan hệ tình cảm, nhưng không đăng ký kết hôn và có một con chung là cháu Lê Trang Anh, sinh ngày 03/8/2021. Từ khoảng tháng 10 năm 2022, D và chị Ph xảy ra mâu thuẫn nên chị Ph bỏ đi, để cháu Trang A sinh sống cùng với D và bà Nguyễn Thị H. Tuy nhiên, giữa Dũng và bà Hương cũng thường xuyên có va chạm, mâu thuẫn.

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 20/01/2023, giữa bà Hương và Dũng lại cãi cãi nhau về việc nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Trang A. D đòi cháu Trang A để nuôi. Sợ bị D đánh, bà H bế cháu Trang A vào nhà, đóng cửa, D đứng ngoài chửi và đòi cháu nên bà H mở cửa trả Trang A cho D. Khoảng 01 phút sau, bà H ra ngoài thì thấy D đang bế cháu Trang A trên vai phải đi về phía cầu Dâu, thôn Cổ Châu, xã Châu Can. Khi đến đầu cầu Dâu, D chuyển sang dùng tay trái để xách cháu Trang A, đến giữa cầu,D dùng 2 tay đưa cháu Trang A lên cao qua đầu rồi tiếp tục hạ cháu xuống, đưa qua khe hở của lan can cầu với mục đích để bà Hương nhìn thấy, nhưng D không ném cháu Trang A xuống. Lúc đó, có anh Nguyễn Phú Hải và chị Nguyễn Thị H cùng trú tại thôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ, đi qua nhìn thấy thì liền vào can ngăn, D để cháu Trang Anh xuống mặt cầu, cháu Trang A được chị Hạnh đưa về nhà.

Không dừng lại, Dũng quay lại đầu cầu gặp bà Hương và hai bên tiếp tục to tiếng cãi nhau. D đẩy bà Hương ngã ra đường, 1 tay ôm vào phần lưng, 1 tay ôm hai chân, bốc bà Hương đi ra phía ngoài cầu Dâu và nói “Tôi với bà sống để làm gì, thà chết cho xong”. Đi đến đoạn 1/3 cầu, D để bà H xuống, D dùng thân người tỳ đẩy lên phần thân người trên của bà Hương thò ra ngoài lan can cầu, phần lưng bà H tựa vào lan can cầu. Hoảng sợ, bà H dùng tay, chân bám vào lan can cầu, D dùng tay trái tỳ giữ, nắm tay phải của bà H, ấn chặt vào lan can cầu, tay phải cậy tay trái của bà H với mục đích dọa bà H thì mọi người vào can ngăn nên D thả bà H ra. Ngày 22/01/2023, bà Hương đến cơ quan Công an trình báo.

Ngày 30/01/2023, Nguyễn Văn D đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H và cháu Lê Trang A không bị thương tích gì. Bà H, ông H không yêu cầu Dũng phải bồi thường dân sự cho hai bà cháu.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 31/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Dũng về tội “Đe dọa giết người” theo quy định tại điểm a, d khoản 2, Điều 133 BLHS.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận cáo trạng truy tố về tội “Đe dọa giết người” là đúng, không oan sai. Việc bị cáo phạm tội đúng là do có phần bị kích động khi cãi nhau với bà H, bị cáo đã mang con đẻ là cháu Lê Trang A và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H, đe dọa giất họ bằng cách ném xuống sông. Bị cáo hoàn toàn không có ý định giết họ vì bị áo hoàn toàn có đủ khả năng làm điều đó. Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo thật nghiêm.

Người bị hại, bà Nguyễn Thị H đề nghị: Giữa bà và D thường xuyên có mâu thuẫn trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong việc trông nom, nuôi dưỡng cháu Lê Trang Anh do mẹ cháu bỏ đi. Chính vì vậy, trong lúc nóng giận, cãi vã, bị cáo đã có hành vi đe dọa giết cả bà và cháu Trang Anh. Bà Hương xác nhận, tại thời điểm đó, nếu muốn tước đoạt tính mạng của hai bà cháu, thì Dũng có thể dễ dàng, vứt bỏ cháu Trang Anh trước khi mọi người đến can ngăn, ngay cả với bà, nếu D quyết liệt, thì D vẫn có thể ném bà xuống sông được. Bà đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bà Hương xác nhận, bà và cháu Trang Anh không bị tổn hại nhiều, dù có chút hoảng loạn về tâm lý, song không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho bà.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, ông Nghiêm Đức Huy đề nghị: Việc bị cáo đe dọa giết cháu Lê Trang A thông qua hành vi dọa ném cháu xuống sông là đúng. Song cũng Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt khi bị cáo thật thà khai báo, hối cải về hành vi phạm tội. Về trách nhiệm dân sự, ông Huy xác nhận, cháu Trang A không bị tổn hại về sức khỏe, nên không có đề nghị gì.

Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát huyện Phú Xuyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ điểm a, d khoản 3 Điều 133, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS và các quy định khác của Bộ luật hình sự, để xử phạt Nguyễn Văn D, từ 42 - 48 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo xin lỗi bị hại và đề nghị Tòa xử phạt nghiêm khắc để bị cáo chuộc lỗi với con và mẹ đẻ của mình.

Người bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi người bị hại và hứa cải tạo tốt, sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Kết luận điều tra, cáo trạng, lời khai của người bị hại, người làm chứng và những tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận: Đây là vụ án “Đe dọa giết người”, xảy ra tại thôn Cổ Châu, xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, do Nguyễn Văn D thực hiện, theo đó, vào khoảng 21 giờ ngày 20/1/2023, tại khu vực Cầu Dâu, thôn Cổ Châu, do mâu thuẫn với mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Hương. Nguyễn Văn Dũng đã có hành vi dọa ném con gái là cháu Lê Trang Anh, SN 03/8/2021và bà Nguyễn Thị H xuống sông, làm cho người bị hại lo sợ việc đe dọa sẽ được thực hiện. Nên việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố bị cáo về tội “Đe dọa giết người” theo tình quy định điều 133 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét bị cáo phạm tội với 02 người, trong đó, cháu Lê Trang A mới có hơn 01 tuổi, nên bị cáo bị truy tố xét xử với các tình tiết định khung tại điểm a, điểm d khoản 2 điều 133 BLHS là đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền an toàn về sức khỏe, tính mạng của nhiều người khác, nhất đây lại là những người ruột thịt (mẹ đẻ, con đẻ) của bị cáo được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an ở địa phương, gây hang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, hơn nữa, bị cáo lại có nhân thân xấu, trong quá khứ, nhiều lần bị kết án về tội Cướp tài sản, do đó cần thiết phải xử lý bị cáo bằng hình phạt tù với thời gian dài mới đủ cải tạo và giáo dục bị cáo.

Qua xem xét hồ sơ, cũng như tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy, hành vi phạm tội của bị cáo đã thể hiện rõ động cơ mục đích phạm tội của bị cáo chỉ là đe dọa giết người, chứ không muốn tước đoạt tính mạng của họ, vì ở thời điểm phạm tội là buổi tối, tại khu vực cầu Dâu vắng vẻ, ban đầu chỉ có bị cáo và cháu Trang Anh, (bà Hương chạy ra sau), khi mang cháu lên cầu, bị cáo hoàn toàn có đủ thời gian để ném cháu xuống sông, trước khi có sự xuất hiện của vợ chồng anh H, chị H và bà H. Tương tự, khi Dũng lôi kéo đẩy bà Hương, nếu muốn, bị cáo cũng vẫn có thể làm được như chính bị cáo và bà Hương xác nhận, bởi bị cáo có sức khỏe, bà Hg lại thất thế khi một tay bám vào thành cầu, một tay bị D nắm giữ và D đã đẩy một phần thân người của bà ra khỏi thành cầu. Song D chỉ thực hiện đến đó và dừng lại. Bản thân bà H và bản thân bị cáo xác nhận, dù là mâu thuẫn, song giữa hai mẹ con mới chỉ dừng lại chủ yếu là cãi, chửi nhau, chưa trầm trọng đến mức bị cáo phải thực hiện tội phạm là giết con đẻ, mẹ đẻ của mình. Do vậy, HĐXX nhận thấy, xử lý bị cáo về tội “Đe dọa giết người” là có căn cứ, pháp luật, mà không cần thiết phải trả hồ sơ cho cơ quan điều tra, truy tố xem xét, xử lý bị cáo về dấu hiệu của tội “Giết người” theo quy định của pháp luật.

Khi lượng hình, xét bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú mà áp dụng các quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 BLHS mà giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm, nên Tòa không xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại người có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Đe dọa giết người”.

Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 133; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Văn D 48 (Bốn mươi tám ) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam 04/4/2022.

Bị cáo, người bị hại người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại người có quyền kháng cáo bản án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ