vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 07/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Vũ Trí H 07 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản ”, thời hạn tù tính từ ngày 22/ 4/ 2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, Điều 331 và 334 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Vũ Trí H 07 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản ”, thời hạn tù tính từ ngày 22/ 4/ 2023.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 40/2023/HS-ST
Ngày 07/ 7/ 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên. Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm theo thủ tục tút gọn vụ án hình sự thụ lý số 28/ 2023/ HS- ST ngày 22 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo Vũ Trí H, sinh năm 2000. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

HKTT và chỗ ở: Thôn Húi, xã Đan Hội, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không.Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12. Bố đẻ: Vũ Trí Tám, sinh năm 1977.

Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1978.Vợ, con: Chưa.

Nhân thân: Năm 2021, bị UBND xã Đan Hội, huyện Lục Nam ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng.

Tiền án: Bản án số 112/2021/HSST ngày 29/11/2021 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2022.

Tiền sự: Không.

Bị caó bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2023 đến nay. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.( Có mặt )

Bị hại: Anh Vũ Văn K- Sinh năm 1979 (Đề nghị xét xử vắng mặt ).

Nơi cư trú: Thôn Triệu, xã Đan Hội, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 13 giờ ngày 22/4/2023, Vũ Trí H, sinh năm 2000, trú tại thôn Húi, xã Đan Hội, huyện Lục Nam đi bộ qua nhà anh Vũ Văn K, sinh năm 1979 ở thôn Triệu, xã Đan Hội. H thấy trong sân nhà anh K nuôi nhiều chim cảnh. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, H nảy sinh ý định trộm cắp 01 con chim cảnh của anh K mang đi bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. H đi bộ qua vườn không có tường rào vào trong sân nhà anh K bắt được 01 con chim chích choè lửa đực, lông màu vàng đậm, trắng, đen. Khi H vừa cầm được con chim đó đưa ra khỏi lồng thì bị anh K phát hiện, hô hoán. H cầm con chim trộm cắp được bỏ chạy . H chạy được một đoạn thì hai chân vấp vào nhau nên tuột tay làm con chim chích choè lửa bay đi. H tiếp tục bỏ chạy được khoảng 100m thì bị bắt giữ .

Sau khi bắt giữ được H, Công an xã Đan Hội phối hợp cùng anh K tiến hành truy tìm vật chứng và tìm được con chim chích choè lửa đực mà H đã trộm cắp nêu trên và trao trả lại cho anh K,

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Nam kết luận: 01 con chim chích choè lửa giống đực, 02 năm tuổi, lông nhiều màu sắc gồm vàng đậm, màu trắng, màu đen có trị giá là 750.000 đồng .

Cáo trạng số 39 /CT- VKS ngày 21/ 6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố Vũ Trí H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo là đúng người , đúng tội, không oan. Bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 22/ 4/ 2023, bị cáo trộm cắp 01 con chích chòe lửa tại nhà anh K và bị bắt quả tang. Bị cáo đồng ý Kết luận định giá tài sản trộm cắp là 750.000 đồng .Bị cáo ăn năn hối cải và xin giảm hình phạt.

Bị hại là anh Vũ Trí K vắng mặt tại phiên tòa, tại Cơ quan điều tra trình bày: Khoảng 13 giờ ngày 22/4/2023, bị cáo H trộm cắp 01 con chích chòe lửa tại nhà anh K và bị bắt quả tang; nay anh K đã nhận lại tài sản trên nên không yêu cầu gì . Anh K đề nghị giảm hình phạt đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố đồng thời luận tội và đề nghị kết tội như sau: Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích lại trộm cắp tài sản trị giá 750.000 đồng nên đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị caó không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ là " Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải " , ngoài ra Bị hại đề nghị giảm hình phạt đối với bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo không có tài sản riêng và T nhập nên không áp dụng hình bổ sung bằng tiền.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự : Xử phạt bị cáo Vũ Trí H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản ”, thời hạn tù tính từ ngày 22/ 4/ 2023; không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng : Bị cáo ăn năn hối cải và mong muốn sớm trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa,căn cứ luận tội và đề nghị kết tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ), việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng tới việc xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo phạm tội Tộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị bắt quả tang và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, chứng cứ rõ ràng; có nơi cư trú rõ ràng nên việc điều tra, truy tố và xét xử theo thủ tục rút gọn là đúng qua định tại khoản 1 Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về căn cứ xác định tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại suốt quá trình tố tụng, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án; có đủ căn cứ rõ ràng: Ngày 22/ 4/ 2023, bị cáo H trộm cắp 01 con chích chòe lửa tại nhà anh K mục đích bán lấy tiền ăn tiêu và bị bắt quả tang. Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích lại trộm cắp tài sản trị giá 750.000 đồng nên đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo cũng như luận tội và đề nghị kết tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định pháp luật . Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự quy định và bảo vệ, xâm phạm đến trật tự xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản nên chứng tỏ bị cáo là người không chịu tu dưỡng bản thân, có ý thức coi thường pháp luật . Vì vậy cần thiết phải có hình phạt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất và hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; bảo đảm tác dụng giáo dục riêng và và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo đang tạm giam nên tiếp tục tạm giam bị cáo.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị caó không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ là " Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; "; ngoài ra Bị hại đề nghị giảm hình phạt đối với bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, T nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền .

[5]. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 292, khoản 1 Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự:

2. Xử phạt bị cáo Vũ Trí H 07 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản ”, thời hạn tù tính từ ngày 22/ 4/ 2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo .

Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

3.Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, Điều 331 và 334 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án .

Cỡ chữ