vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Đặng Văn D).

C cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc K1, Võ Đình C). C cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? C cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Đặng Văn D).
  • Căn cứ chính? Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH B THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày: 18-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH B THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mi Mi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Thanh Hiệp

2. Ông Nguyễn Thanh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông C3 Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lương Tiểu Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 04/4/2023, đối với các bị cáo:

1/ ĐẶNG VĂN D (Tên gọi khác: Lượm Em) - Sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đặng Văn K và bà Nguyễn Thị Xuân D1; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ NGUYỄN NGỌC K1 (Tên gọi khác: Tám) - Sinh năm 2001, Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Ngọc T và bà Bùi Thị Mỹ H2; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3/ VÕ ĐÌNH C (Tên gọi khác: Bợm) - Sinh năm 2001; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Võ Đình C2 và bà Huỳnh Thị Mỹ C3 (Chết); Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Lê Văn B – Sinh năm 1978 (có mặt). Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận.

- Người làm chứng:

1/ Lê Thị D4 – Sinh năm 1969 (vắng mặt).

2/ Trần Thị C – Sinh năm 1940 (vắng mặt).

3/ Lê H3 S – Sinh năm 2000 (vắng mặt).

4/ Lê Thị Thu H3 – Sinh năm 1998 (vắng mặt).

5/ Nguyễn Thị P1 – Sinh năm 1977 (vắng mặt).

6/ Nguyễn Hoài P2 – Sinh năm 1988 (vắng mặt).

7/ Lê Tấn D4 – Sinh năm 1989 (vắng mặt).

8/ Lê Văn L – Sinh năm 1962 (vắng mặt).

9/ Lê Văn T2 – Sinh năm 1980 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: Thôn L, xã H - Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 19/9/2022, Đặng Văn D (Lượm Em) điều khiển xe mô tô, biển số 86B3-878.68 từ thành phố Phan Thiết về nhà. Khi đi ngang qua quán của Nguyễn Hoài P2 thì nhìn thấy Lê Văn T2, cùng ở thôn Liêm An, xã H3 Liêm đang ăn sáng tại đây, D dừng xe, đi bộ vào quán, tới nắm cổ áo của T2 nói: “Tiền của tôi, ông mượn đỡ 03 ngày đến giờ hơn 03 tháng sao không trả”, T2 vùng vẫy, bị té từ trên ghế xuống, T2 nói: “Thả anh ra, để anh ăn xong rồi ra ngoài nói chuyện”, lúc này có P2 chạy tới can ngăn nói: “Chỗ người ta buôn bán, có gì ra đường nói chuyện” nên D thả T2 ra và đi ra ngoài đường đứng đợi. Ăn xong, T2 đi ra ngoài gặp D, D hỏi T2 khi nào trả tiền thì T2 nói khi nào có trả. D bực tức nên dùng tay đấm một cái trúng vào vai trái của T2 (không để lại thương tích). Thấy D đánh T2 nên P2; Lê H3 S,Lê Tấn D4, cùng ở thôn Liêm An, xã H3 Liêm (là những người có họ hàng với T2) tới can ngăn và xảy ra xô xát với D (không ai bị thương tích gì). D bỏ chạy về nhà lấy 01 cây dao tự chế dài khoảng 50-60cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ chạy lên lại định đánh những người trên nhưng khi đến nơi thấy có rất nhiều người là dòng họ của T2 (không xác định được là ai) đứng cầm hung khí trước nhà nên D không dám vào mà chỉ đứng bên ngoài, hai bên chửi qua chửi lại một lúc thì D lấy xe mô tô điều khiển đi đến thôn Liêm T2 nhậu.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi nhậu xong, do còn bực tức chuyện xảy ra lúc sáng nên D điều khiển xe mô tô chạy vô lại khu nhà T2. Trên đường đi ngang qua nhà của Võ Đình C (Bợm), ở thôn Liêm T2, xã H3 Liêm, D dừng xe lại đứng trước nhà, gọi C, thấy C từ nhà của một người hàng xóm đi ra, D nói: “Hồi sáng có tH2 kia đánh anh nên giờ lên đánh lại, em lên giúp anh”, C đồng ý đi theo, lên xe để D chở đi. D chở C đi ngang qua nhà của Nguyễn Ngọc K1 (Tám), ở thôn Liêm T2, xã H3 Liêm, D dừng xe ngoài đường, kêu K1, khi K1 ra thì D nói: “Hồi sáng có tH2 kia đánh anh nên giờ lên đánh lại, em lên giúp anh”, K1 đồng ý đi theo, lên xe để D chở C và K1 đi vào khu vực nhà của T2. Trên đường đi đến một nhà làm thợ mộc ở cạnh đường ray xe lửa thuộc thôn Liêm An, xã H3 Liêm, D dừng xe, bảo C và K1 xuống xe tìm mấy đoạn cây gỗ làm hung khí, C và K1 xuống xe lấy 03 cây gỗ, mỗi cây dài khoảng 95cm-1,50m, cạnh vuông khoảng 2,5-04cm (C cầm 02 cây và K1 cầm 01 cây) rồi cả hai lên xe cho D chở đi, D để cây dao tự chế sử dụng lúc sáng ở dưới chỗ để chân của xe mô tô. Khi đến gần nhà T2, D dựng xe trên đường rồi tay phải cầm dao, tay trái cầm 01 cây gỗ do C đưa, D nói: “Đi đánh lộn”, C và K1 đồng ý, mỗi người cầm 01 cây gỗ để hỗ trợ D, cả ba đi vào nhà bà Lê Thị D4, ở thôn Liêm An, xã H3 Liêm (là chị ruột của T2) để tìm đánh những người đã xảy ra xô xát với D lúc sáng. Thấy D, C và K1 cầm dao, cây gỗ đi vào nhà thì bà D4 la lên: “Cái gì mà tụi mày cầm cây và dao đến nhà tao vậy”, D nhìn nhà bà D4, thấy không phải nhà cần tìm nên D, C và K1 bỏ đi lên nhà S, cách nhà bà D4 khoảng 03 C nhà. Lúc này, S trong nhà đi ra thấy D, C và K1 cầm dao, cây gỗ đi vào sân nhà nên S bỏ chạy vào trong nhà, D, C và K1 cầm dao, cây gỗ đuổi theo nhưng bị chị Lê Thị Thu H3 (là chị ruột của S) đứng can ngăn không cho vào nhà. D lấy cây gỗ chọc vào phía trong nhà thì bị S chụp lấy được một cây gỗ dài 95cm, loại gỗ vuông, cạnh đáy nhỏ có kích thước khoảng 2,5cm. S lấy 01 cây mỏ gãy cầm để chống trả nên D, C và K1 không dám xông vào nhà. Bà Nguyễn Thị P1 nhìn thấy đánh nhau nên la, kêu cứu thì D, C và K1 bỏ đi sang nhà của P2 gần đó, cả ba thách thức kêu P2 ra đánh nhau nhưng P2 không ra nên D, C và K1 tiếp tục quay lại nhà của S thách thức đánh nhau với S nhưng S cũng không ra. Cùng lúc này, ông Lê Văn B (Cọt Em) là anh của T2 đi làm về. Khi ông B vừa điều khiển xe mô tô chạy vào nhà (nằm giữa nhà bà D4 và S) thì D, K1 và C nhìn thấy, D cầm dao, K1 và C cầm cây gỗ chạy sang nhà ông B. Ông B chưa kịp chạy xe lên dốc nhà sau thì bị D dùng dao chém 01 nhát trúng vào lưng của ông B gây thương tích, K1 cầm cây gỗ đánh 01 cái trúng vào cẳng chân trái của ông B; C cầm cây gỗ đứng bên ngoài hỗ trợ. Ông B vứt xe bỏ chạy ra phía sau thì D cầm dao, K1 và C cầm cây gỗ đuổi theo đánh; đuổi kịp, D dùng dao chém nhiều cái trúng vào hông, lưng trái, bàn tay phải của ông B làm chấn thương phần mềm hông, lưng trái, phần mềm ngón IV, V bàn tay phải, đứt cơ chéo bụng trong và ngoài bên trái, đứt cơ dựng gai trái, gãy mào chậu trái; K1 dùng cây gỗ đánh hai cái trúng vào cẳng chân trái và vai trái của ông B làm sây sát da; C cầm cây gỗ định đánh ông B thì bà D4 và bà Trần Thị C, (là mẹ ruột của ông B) ở gần đó tri hô, kêu cứu, C nghe tiếng la thì dừng lại, không đánh ông B. Bị đánh ông B bỏ chạy, D cầm dao, K1 và C cầm cây gỗ đuổi theo nhưng không kịp nên cả ba bỏ đi. Sau đó, ông B được người thân đưa đi cấp cứu, điều trị ở Bệnh viện đa khoa tỉnh B Thuận đến ngày 28/9/2022 thì xuất viện (theo lời khai của ông B, bà D4 và bà C; còn D và K1 khai khi ông B vừa dừng xe mô tô thì có dùng 01 cây gỗ dài khoảng 1,5m, tròn, đường kính khoảng 05-07cm đánh trúng đầu D gây thương tích nên D dùng dao đuổi chém ông B, K1 và C cầm cây gỗ đuổi đánh ông B; khi đuổi kịp, D dùng dao chém nhiều cái, K1 dùng cây gỗ đánh hai cái trúng ông B gây thương tích, C cầm cây gỗ đứng hỗ trợ D và K1, khi C tính cầm cây gỗ đánh ông B thì bà D4 la, kêu cứu nên C không đánh ông B).

Ngày 07/10/2022, ông B có đơn đề nghị được giám định thương tích và yêu cầu xử lý hình sự đối với D, K1 và C.

Còn D được K1 và C chở tới Bệnh viện đa khoa An Phước, tỉnh B Thuận khám và điều trị thương tích. Ngày 16/12/2022, D có đơn yêu cầu khởi tố đối với ông B; ngày 21/02/2023, D có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với ông B.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 573/2022/TgT ngày 27/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B Thuận kết luận thương tích của Lê Văn B: Vết thương phần mềm vùng hông lưng trái ngang cung sau xương sườn số 11 đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước 06 x 0,3cm, tỉ lệ tổn thương cơ thể là 2%. Vết thương – chấn thương vùng hông lưng trái, đứt cơ chéo bụng trong và ngoài bên trái, đứt cơ dựng gai trái, gãy mào chậu trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện để lại sẹo vết thương trùng với sẹo mổ kích thước 17 x 0,2cm, tỉ lệ tổn thương cơ thể là 11% + 2%. Vết thương phần mềm mặt ngoài đốt xa ngón IV bàn tay phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước 2,5 x 0,1cm, tỉ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Vết thương phần mềm mặt lòng ngón tay V bàn tay phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước 3,6 x 0,1cm, tỉ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Sây sát da vùng vai trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo mờ kích thước 4,6 x 0,2cm, tỉ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Sây sát da 1/3 dưới mặt trước cẳng chân trái, không phải cẳng chân phải như trong giấy chứng nhận thương tích. Không đủ cơ sở xác định tỉ lệ tổn thương cơ thể. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Lê Văn B hiện tại là 17%. Các vết thương vùng hông lưng trái, bàn tay phải do vật sắc gây ra, sây sát da vùng vai trái do vật tày gây ra.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 590/2022/TgT ngày 03/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B Thuận kết luận thương tích của Đặng Văn D: Vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước 5 x 0,5cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Đặng Văn D hiện tại là 2%. Vết thương do vật tày gây ra.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 08/2023/TgT ngày 08/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B Thuận kết luận: Chiều hướng L tác động của vết thương trên cơ thể ông Đặng Văn D đã được ghi nhận tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 590/2022/TgT ngày 03/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B Thuận là từ trên xuống dưới.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

01 cây gỗ dài 95cm, loại gỗ vuông, cạnh đáy nhỏ có kích thước khoảng 2,5cm là vật chứng vụ án do Lê H3 S giao nộp, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định chuyển vật chứng từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý;

01 đoạn video clip ghi lại diễn biến việc Đặng Văn D cầm 01 cây dao tự chế dài khoảng 50-60cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ đe dọa, chửi bới, thách thức đánh nhau với gia đình Lê Văn T2 vào sáng ngày 19/9/2022 do Công an xã H3 Liêm giao nộp lưu trong 01 đĩa DVD chuyển kèm theo hồ sơ vụ án;

01 cây dao tự chế dài khoảng 50-60cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ: sau khi xảy ra sự việc, Đặng Văn D đã vứt bỏ ở khu vực đất trống nằm bên phải đường liên thôn hướng Thuận Hòa – Quốc lộ 1A, thuộc thôn Liêm An, xã H3 Liêm, Công an xã H3 Liêm đã truy tìm nhưng không thu giữ được;

02 cây gỗ, mỗi cây dài khoảng 95cm-1,50m, cạnh vuông khoảng 2,5-04cm: sau khi đánh nhau Nguyễn Ngọc K1 và Võ Đình C đã vứt bỏ (không nhớ nơi vứt bỏ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc không thu giữ được.

Về dân sự:

Ông Lê Văn B yêu cầu Đặng Văn D, Nguyễn Ngọc K1 và Võ Đình C bồi thường chi phí điều trị thương tích, mất ngày công lao động của bản thân và người nuôi bệnh, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 87.488.000 đồng. Đặng Văn D bồi thường số tiền 50.000.000 đồng; Nguyễn Ngọc K1 bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; Võ Đình C bồi thường số tiền 17.488.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, ông B không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đặng Văn D, Nguyễn Ngọc K1 và Võ Đình C.

Quá trình đánh nhau với ông Lê Văn B, Đặng Văn D bị thương tích, tỉ lệ thương tích qua giám định là 02%. Ngày 16/12/2022, D có đơn yêu cầu khởi tố đối với ông B; ngày 21/02/2023, D có đơn rút yêu cầu khởi tố và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự đối với ông B.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSHTB ngày 06/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo các bị cáo Đặng Văn D, Nguyễn Ngọc K1, Võ Đình C về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Đặng Văn D, Nguyễn Ngọc K1, Võ Đình C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Đặng Văn D từ 18 tháng đến 21 tháng tù;

Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Nguyễn Ngọc K1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù;

Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Võ Đình C từ 09 tháng đến 12 tháng tù

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 cây gỗ dài 95cm, loại gỗ vuông, cạnh đáy nhỏ có kích thước khoảng 2,5cm là vật chứng vụ án

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại diễn biến việc Đặng Văn D cầm 01 cây dao tự chế dài khoảng 50-60cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ đe dọa, chửi bới, thách thức đánh nhau với gia đình Lê Văn T2 vào sáng ngày 19/9/2022.

C cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, C cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Văn D, Nguyễn Ngọc K1, Võ Đình C khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ C cứ pháp luật để khẳng định: Do có mẫu thuẫn về vấn đề tiền bạc từ trước nên khoảng 12 giờ ngày 19/9/2022, tại thôn Liêm An, xã H3 Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, Đặng Văn D dùng 01 cây dao tự chế dài khoảng 50-60cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ chém 01 nhát trúng vào lưng của ông Lê Văn B gây thương tích; Nguyễn Ngọc K1 và Võ Đình C mỗi người dùng 01 cây gỗ dài khoảng 95cm-1,50m, cạnh vuông khoảng 2,5-04cm đứng bên ngoài hỗ trợ D. Khi ông B bỏ chạy thì D cầm dao, C và K1 cầm cây gỗ đuổi theo, D dùng dao chém nhiều cái trúng vào hông, lưng trái, bàn tay phải của ông B làm chấn thương phần mềm hông, lưng trái, phần mềm ngón IV, V bàn tay phải, đứt cơ chéo bụng trong và ngoài bên trái, đứt cơ dựng gai trái, gãy mào chậu trái; K1 dùng cây gỗ đánh hai cái trúng vào cẳng chân trái và vai trái của ông B làm sây xát da; C cầm cây gỗ định đánh ông B nhưng bị do bà Lê Thị D4 và bà Trần Thị C ngăn cản nên không đánh được. Hậu quả: ông B bị thương tích, tỉ lệ qua giám định là 17%.

Hành vi trên của các bị cáo D, K1, C đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, các bị cáo dùng dao tự chế sắc, bén, cây gỗ trực tiếp tác động vào cơ thể của ông B là sử dụng hung khí nguy hiểm, khi không có mâu thuẫn gì đã vô cớ tìm đánh bị hại là có tính chất côn đồ, xâm phạm đến sức khỏe của người khác gây thương tích cho ông B với tỷ lệ thương tật 17% được quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có C cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

Xét tính chất, mức độ, vai trò đồng phạm của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng khi nghe bị cáo D rủ đi đánh nhau là đồng ý ngay, tỏ ra là anh hùng. Trong vụ án này bị cáo D có vai trò chủ mưu, rủ rê các bị cáo khác cùng thực hiện tội phạm, là người thực hành tích cực, dùng dao chém gây thương tích cho ông B nhiều nhất nên phải chịu mức hình phạt cao nhất. Đối với các bị cáo K1, C nghe bị cáo D kể sự việc đã bị người khác đánh, các bị cáo tham gia đi với bị cáo D đến tìm đánh người mà không cần hỏi lý do, bị cáo K1 là người dùng cây gỗ đánh 02 cái vào chân trái, vai trái của bị hại B. Còn bị cáo C cũng cầm cây gỗ chưa đánh ai nhưng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp sức tích cực cho bị cáo D chém ông B gây thương tích là đồng phạm trong vụ án. Cho nên các bị cáo K1, C phải chịu trách nhiệm chung về hành vi và hậu quả gây ra cho ông B.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo K1 có bà nội là liệt sĩ Nguyễn Thị Cang, bị hại xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo, C cứ vào tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

Từ những phân tích trên, C cứ tính chất và mức độ phạm tội thì hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm sức khỏe của người khác gây bất B, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần thiết phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc Tơng xứng với hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo K1, C vai trò thứ yếu, các bị cáo có nhiều tình tiết tình tiết giảm nhẹ, đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tịch thụ tiêu hủy: 01 cây gỗ dài 95cm, loại gỗ vuông, cạnh đáy nhỏ có kích thước khoảng 2,5cm là vật chứng vụ án.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đoạn video clip ghi lại diễn biến việc Đặng Văn D cầm 01 cây dao tự chế dài khoảng 50-60cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ đe dọa, chửi bới, thách thức đánh nhau với gia đình Lê Văn T2 vào sáng ngày 19/9/2022.

Đối với 01 cây dao tự chế dài khoảng 50-60cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ: sau khi xảy ra sự việc, Đặng Văn D đã vứt bỏ ở khu vực đất trống nằm bên phải đường liên thôn hướng Thuận Hòa – Quốc lộ 1A, thuộc thôn Liêm An, xã H3 Liêm; 02 cây gỗ, mỗi cây dài khoảng 95cm-1,50m, cạnh vuông khoảng 2,5-04cm: sau khi đánh nhau Nguyễn Ngọc K1 và Võ Đình C đã vứt bỏ (không nhớ nơi vứt bỏ), không thu giữ được nên Tòa không xem xét giải quyết

[7] Về dân sự: Các bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, sau khi nhận tiền, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác:

Đặng Văn D bị thương tích, tỉ lệ thương tích qua giám định là 02%. Ngày 21/02/2023, D có đơn rút yêu cầu khởi tố và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự đối với ông B nên Tòa không xem xét giải quyết.

Các bị Đặng Văn D, Nguyễn Ngọc K1, Võ Đình C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Đặng Văn D).

C cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc K1, Võ Đình C).

C cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

C cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn D (tên gọi khác: Lượm Em), Nguyễn Ngọc K1 (tên gọi khác: Tám), Võ Đình C (tên gọi khác: Bợm) đều phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Đặng Văn D (tên gọi khác: Lượm Em) 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Xử phạt:

- Nguyễn Ngọc K1 (tên gọi khác: Tám) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

- Võ Đình C (tên gọi khác: Bợm) 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây gỗ dài 95cm, loại gỗ vuông, cạnh đáy nhỏ có kích thước khoảng 2,5cm, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh B Thuận theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/3/2023.

Lưu hồ sơ vụ án: 01 đoạn video clip ghi lại diễn biến việc Đặng Văn D cầm 01 cây dao tự chế dài khoảng 50-60cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ đe dọa, chửi bới, thách thức đánh nhau với gia đình Lê Văn T2 vào sáng ngày 19/9/2022.

Về án phí: Các bị cáo Đặng Văn D (tên gọi khác: Lượm Em), Nguyễn Ngọc K1 (tên gọi khác: Tám), Võ Đình C (tên gọi khác: Bợm) mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/4/2023).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ