vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h

Tuyên bố: Bị cáo Trần Huy T phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt Trần Huy T 18 (Mười tám) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Huy T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:40/2023/HS-ST
Ngày: 30-05-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải

2. Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Lệ Hoài,Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Bà Ma

Thị Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái

Nguyên mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLST-HS, ngày 11 tháng 05 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/HSST-QĐ, ngày 16 tháng 05 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Huy T; giới tính: Nam; sinh năm 1982; Nơi ĐKHKTT và

chỗ ở: xóm V, xã H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (nay là tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn Tĩnh (đã chết) và bà Dương Thị Thái (đã chết); Vợ, con: chưa có;

Tiền án: 03: + Tại bản án số 50/2017/HSST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân

dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Trần Huy T 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản là 950.000 đồng). Ngoài ra, còn phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp sung quỹ Nhà nước 400.000 đồng (Chấp hành xong ngày 03/02/2018).

+ Tại bản án số 88/2018/HSST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Trần Huy T 15 tháng tù về “trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ). Ngoài ra, còn phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp sung quỹ Nhà nước 320.000 đồng (Chấp hành xong ngày 04/5/2020).

+ Tại bản án số 06/2020/HS-ST ngày 04/5/2020 Tòa án nhân dân huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Trần Huy T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, còn phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. (Chấp hành xong ngày 16/5/2022)

- Tiền sự: 01

+ Ngày 08/4/2017, bị Công an huyện Đồng Hỷ xử phạt vi phạm hành chính

số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chưa nộp phạt).

- Nhân thân: Ngày 28/01/2016, Công an huyện Đồng Hỷ xử phạt vi phạm

hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị bắt tạm giam từ ngày 02/03/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ

Công an huyện Đồng Hỷ; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: 1.Bà Trần Thị H, sinh năm 1961 (Vắng mặt)

Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên.

2.Bà Trần Thị Th, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị V, sinh năm 1974

Địa chỉ: xóm Vải, thị trấn H, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên.

Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công

an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên:

1. Ông Nguyễn Nam Thái- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh

Thái Nguyên.

Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:

1. Ông Lý Thanh Tùng- Cán bộ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Nguyễn Văn Mạnh- Chiến sỹ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái

Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 16/02/2023 đến ngày 19/02/2023, Trần Huy T

đã thực hiê ̣n 02 vụ “Trộm cắp tài sản” trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, cụ thể như sau:

Vụ án thứ nhất:

Hồi 09 giờ ngày 16/02/2023, Trần Huy T một mình đi bộ từ nhà đến nhà bà

Trần Thị H (sinh năm 1961, trú tại xóm V, xã H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) thì phát hiện cổng nhà khóa, không thấy có ai trông coi, T nhìn thấy trong vườn nhà bà H có gà thả nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Do cổng nhà bà H đã khóa, T trèo qua tường cao 02 mét vào trong vườn nhà bà H bắt trộm 04 con gà (gồm 02 con gà trống, 02 con gà mái) cho vào bao tải màu trắng (T nhặt được ở góc vườn). Sau đó T vác bao tải đựng 04 con gà đi bộ đến quán cơm Ngọc Ánh của bà Phạm Thị V (sinh năm 1974, trú tại xóm V, xã H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) để bán. Tại đây, bà V đồng ý mua 04 con gà với giá 400.000 đồng và đưa tiền cho T. Số tiền bán gà sau đó T đã tiêu sài cá nhân hết. Ngày 16/02/2023 bà Trần Thị H đã làm đơn trình báo đến Công an xã H đề nghị giải quyết.

Vụ án thứ hai:

Hồi 21 giờ 12 phút ngày 19/02/2023, Trần Huy T đi bộ qua nhà của bà Trần

Thị Th (sinh năm 1982, trú tại xóm V, xã H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) phát hiện thấy cửa đóng, tắt điện, phía đối diện nhà là điện thờ của gia đình đang mở hé cửa, không khóa, T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi đến cửa điện thờ, nhìn qua khe cửa thấy có ánh điện mờ, không có người trông coi, trên bàn thờ ở chính giữa có tiền, bánh kẹo nên T mở cửa đi vào trong điện thờ trộm cắp số tiền 1.000.000đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng); 01 vỉ sữa nhãn hiệu ZinZin có 04 hộp loại 110ml và 01 hộp cà phê hòa tan loại NESCAFE (gồm 10 gói x 20g) để trên bàn thờ. Sau khi lấy được số tài sản trên, T đã sử dụng và tiêu sài hết. Ngày 20/02/2023 bà Trần Thị Th đã làm đơn trình báo đến Công an xã H đề nghị giải quyết

Tại bản kết luận định giá số 21/KL- HĐĐGTS ngày 01/03/2023 của Hội đồng

định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đồng Hỷ, kết luận:

- Giá 04 con gà (02 con gà trống và 02 con gà mái) tổng trọng lượng 08 kg

tại thời điểm ngày 16/02/2023 có giá là 480.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 22/KL - HĐĐGTS ngày 01/3/2023, Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 vỉ sữa Zinzin (gồm 04 hộp loại 110ml) tại thời điểm ngày 19/02/2023 có giá là 20.000 đồng; 01 hộp cà phê hòa tan nhãn hiệu Nescafe (gồm 10 gói x 20g) tại thời điểm ngày 19/02/2023 có giá là 35.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.535.000 (Một triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng)

Tại Cơ quan điều tra, Trần Huy T khai nhận T bộ hành vi phạm tội như nêu

trên.

Vật chứng của vụ án: - 04 con gà (02 con gà trống và 02 con gà mái) tổng

trọng lượng 08 kg (hiện không thu giữ được).

- 01 vỉ sữa Zinzin (gồm 04 hộp loại 110ml); 01 hộp cà phê hòa nhãn hiệu

Nescafe và 1.000.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (hiện không thu giữ được).

Về trách nhiệm dân sự: Trần Huy T chưa thực hiện việc bồi thường, bị hại là

bà Trần Thị H và bà Trần Thị Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKSĐH, ngày 11/5/2023, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Đồng Hỷ truy tố Trần Huy T về tội “Trộm cắp tài sản “ theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Huy T khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai

tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện

Đồng Hỷ giữ nguyên bản Cáo trạng số 44/CT-VKSĐH, ngày 11/5/2023, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Huy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm h, s khoản

1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Huy T từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: không xem xét; truy thu bị cáo số tiền 400.000đ tiền thu lời bất chính, bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện

kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy

hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết định

tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên

tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/02/2023 đến ngày 19/02/2023, Trần Huy T là người có đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tổng giá trị tài sản mà Trần Huy T trộm cắp là 1.535.000 đồng ( Một triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng

đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

b) Đã bị kết án về tội này ... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm...”

Bản Cáo trạng số 44/CT-VKSĐH, ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Đồng Hỷ truy tố Trần Huy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm tới quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự an T xã hội. Bị cáo là người có sức khỏe và đủ năng lực nhận thức, nhưng do lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã phạm tội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối

với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà bị cáo tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản thiệt hại không lớn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là tái phạm.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện,

sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện ma túy, qua xác minh lời khai

tại phiên tòa không có tài sản, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quyết định tạm giam bị cáo Trần Huy T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với tiền và các tài sản bị cáo trộm cắp, bị cáo

đã tiêu xài và sử dụng hết, cơ quan điều tra không thu hồi được. Bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về các biện pháp tư pháp: - Số tiền bán gà được 400.000đ (Bốn trăm

nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đây là số tiền thu lời bất chính nên cần buộc bị cáo nộp vào Ngân sách Nhà nước

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Trong vụ án này, bà Phạm Thị V là người đã mua 04

con gà do T trộm cắp, bà V không biết số tài sản trên do trộm cắp mà có nên hành vi của bà V không cấu thành tội phạm. Vì vậy Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà V là phù hợp.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa thấy phù hợp, cần chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h

khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Huy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Trần Huy T 18 (Mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 02/03/2023.

2/Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Trần

Huy T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

3/Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

4/Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ

luật tố tụng hình sự:

Buộc bị cáo nộp số tiền 400.000đ vào Ngân sách Nhà nước.

5/Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí. Buộc bi ̣ cáo Trần Huy T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6/Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại là bà Trần Thị H, bà Trần Thị Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan là bà Phạm Thị V vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ