- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Minh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Minh Đ 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tộ…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS- PT Ngày: 30 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Hồng Phương; Bà Trần Thị Nhài
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Khánh Tùng, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: - Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 16/2023/TLPT-HS ngày 06/2/2023 do có kháng cáo của bị cáo Hà Minh Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 613/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
* Bị cáo có kháng cáo: Hà Minh Đ, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 30/6/2003; Nơi ĐKHKTT: Xóm Đ, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật, Đại học T4; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hà Văn H (đã chết); Con bà Vũ Thị B; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 321/QĐ-XPVPHC ngày 27/5/2022 của Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Hà Minh Đ 750.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Thị Thu T và 03 bị cáo khác, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thanh H1 trước đây là người yêu cũ của Nguyễn Quang H2, nhưng sau đó đã chia tay H1 vẫn tiếp tục liên lạc với H2 dẫn đến việc Nguyễn Thị Thu T là người yêu mới của H2 ghen tuông, nên xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 01/10/2021, Nguyễn Thanh H1 hẹn Nguyễn Thị Thu T đến khu vực G, thành phố T để đánh nhau, T đồng ý. Khi đi Nguyễn Thanh H1 rủ Hoàng Thị Khánh L, Dương Thị L1, Nguyễn Văn T1, Vũ Thị Huyền T2, Nguyễn Thanh M và Vũ Thị Thu C (đều là bạn của H1) đến giúp H1 đánh T2.
Nguyễn Thị Thu T rủ Nguyễn Quang H2, Nguyễn Thị Yến V, Nguyễn Ngọc Á, Nguyễn Thị H3, Vũ Thị Thanh T3, Lý Diệu Q và Nguyễn Thị H4; Đồng Thời Nguyễn Quang H2 rủ thêm Nguyễn Mạnh N (với mục đích đưa đón T) và Nguyễn Duy K, Hà Minh Đ, Tô Sơn L2 đến với mục đích đánh H1 và những người trong nhóm của H1 thì K, Đ, L2, N đồng ý.
Sau khi nhóm của H1 và T gặp nhau tại khu vực đường T, thành phố T thì H1 và T cãi nhau. T dùng mũ bảo hiểm đập khoảng 4 phát vào đầu H1, sau khi được can ngăn thì tất cả ra về. Sau đó, H2 chở K, N chở T, L2 chở Đ bằng xe mô tô quay về phòng trọ của K để K lấy 01 con dao bằng kim loại tự chế, dài khoảng 40 cm, rộng khoảng 5cm, chuôi bằng gỗ màu vàng dài khoảng 8cm được quấn bằng vải bạt quảng cáo màu trắng - đỏ. Tại phòng trọ của K, T, H2, L2, Đ đều trông thấy K mang dao đi để đánh nhau và đều đồng tình. Đ cũng chuẩn bị sẵn từ trước 01 con dao, chuôi dao dán băng dính đen. Sau đó K, T, H2, L2, Đ cùng với N đi ra quán B1, thuộc phường P, thành phố T. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, H1 tiếp tục hẹn T ra khu vực cây xăng T5 để đánh nhau thì T đồng ý. H1 rủ L, L1, T1, Huyền T2, M, C đến địa điểm trên để giúp mình đánh nhóm của T2. T2 rủ Á, V, T3, Q, H4, H2. Đồng thời, H2 nhờ N chở T2; H2 rủ và chở K, L2 chở Đ đi bằng xe mô tô giúp T2 đánh H1 và những người trong nhóm của H1. Khi nhóm của T2 đi qua trước mặt nhóm của H1 thì T1 chửi nhóm của T2. Lúc này, nhóm của T2 đi tiếp không nói gì. Khi đi được khoảng 10m thì thấy L1 chửi thách thức nhóm của T2. Sau đó, nhóm của T2 đi ra chỗ quán tạp hoá gần đó để nhặt gạch rồi ném về phía nhóm của H1, nhóm của H1 cũng cầm gạch ném lại nhưng không trúng vào người ai. H2 lao vào đạp, vật ngã T1 xuống đất, H2 dùng tay phải nhặt 01 viên gạch dưới đất rồi đập 03 phát vào đầu T1 (lúc này T1 đang đội mũ bảo hiểm) thì bị T1 đánh lại, L2 lao vào dùng chân tay không đánh T1. Khi mũ bảo hiểm của T1 bị vỡ thì H2 không đánh nữa. T1 nhặt 02 viên gạch lên ném 01 viên về phía H2 và L2 nhưng không trúng. Đ nhặt 01 viên gạch dưới đất lên ném trúng vai T1, T1 định ném nốt viên còn lại thì Đ cầm dao giơ lên về phía T1 thì T1 không ném nữa. Lúc này, K dùng tay phải rút con dao đã chuẩn bị sẵn để ở bên sườn xe máy chém 02 nhát về phía lưng của L1 nhưng không trúng. L1 lấy trong cốp xe máy của T1 ra 01 cây gậy sắt (ba-ton) dài khoảng 30cm vụt liên tiếp vào bảo vai của K, nhưng K không bị thương tích gì. Thấy K bị đánh, Đ cầm dao lên để dọa L1, K tiếp tục cầm dao chém vào gậy của L1, chém đến nhát thứ 2 thì gậy rơi xuống đất rồi tiếp tục chém theo chiều từ trên xuống 02 nhát tiếp theo vào bàn tay phải của L1 khiến L1 bị rách da chảy máu và bỏ chạy thì K tiếp tục chém 01 nhát sượt vào lưng áo của L1. Đ và L2 đều nhìn thấy K chém L1 tuy nhiên không can ngăn vì mục đích đến để đánh H1 và những người nhóm của H1. Sau đó, L1 được bạn đưa đến bệnh viện G để điều trị vết thương, còn L2 chở K, Đ trên một xe mô tô, H2 đi một xe mô tô, N chở T2 ra về ngay sau đó. Trên đường về do lo sợ, K cho dao vào bao tải và Đ cho dao vào áo trống nắng rồi cả hai vứt dao ở dọc đường và không nhớ vứt tại đâu. Sau khi sự việc xảy ra bà Dương Thị H5, (sinh năm 1968, HKTT: Xóm S, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là mẹ của L1) đã đến Cơ quan Công an để trình báo.
Hậu quả: Qua xác minh thương tích tại Bệnh viện G, xác định: "Dương Thị L1 nhập viện trong tình trạng tỉnh táo, có vết thương ở tay phải dài 10cm, chụp X - Q1 có gãy xương đốt vằn 2 tay phải, vết thương phức tạp bên tay phải, đứt gân dưới ngón hai, gãy hở xương đốt bàn hai".
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 839/TgT ngày 11/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với chị L1 là 11% (Mười một phần trăm), cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật có cạnh sắc.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 613/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã tuyên bố: Bị cáo Hà Minh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Minh Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác; trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.
Ngày 11/01/2023 bị cáo Hà Minh Đ kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị được hưởng án treo để tiếp tục được đi học tại nhà trường.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này bị cáo không gây thương tích cho bị hại, chỉ tham gia đồng phạm với vai trò không đáng kể, quá trình điều tra bị cáo đã cùng các bị cáo khác bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố đẻ bị cáo được Bộ trưởng Bộ Q2 tặng bằng khen nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy: Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục theo học tại nhà trường, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Hà Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với diễn biến sự việc và các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Do mẫu thuẫn với nhau về việc yêu đương và nhắn tin xúc phạm nhau trên trang Facebook cá nhân, khoảng 13 giờ ngày 01/10/2021 Nguyễn Thanh H1 đã nhắn tin và gọi điện hẹn Nguyễn Thị Thu t đến đường T và cây xăng phường T5, thuộc tổ H, phường T, thành phố T để đánh nhau. Nguyễn Thị Thu T đồng ý và rủ Nguyễn Quang H2 và một số người bạn khác, Nguyễn Quang H2 rủ Nguyễn Duy K, Hà Minh Đ và Tô Sơn L2 đến để giúp T đánh nhau với nhóm của H1. Trước khi đi Nguyễn Duy K và Hà Minh Đ mỗi người chuẩn bị 01 con dao bằng kim loại, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Quang H2 và Tô Sơn L2 đều biết và cùng nhau thống nhất ý trí. Khi đến địa điểm cây xăng phường T, nơi hai nhóm hẹn để đánh nhau và bị Nguyễn Văn T1 và Dương Thị L1 có những lời lẽ thách thức thì Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Duy K, Hà Minh Đ và Tô Sơn L2 là những người trực tiếp lao vào đánh nhau với Nguyễn Thanh H1, Nguyễn Văn T1 và Dương Thị L1, trong đó: Dương Thị L1 bị Nguyễn Duy K dùng dao chém vào tay phải làm L1 bị gãy xương đốt vằn 2 tay phải, đứt gân dưới ngón hai, gãy hở xương đốt bàn hai - Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 11% (Mười một phần trăm); Nguyễn Thanh H1 bị Nguyễn Thị Thu T dùng chân tay đánh; Nguyễn Văn T1 bị Nguyễn Quang H2, Tô Sơn L2 và Hà Minh Đ dùng chân tay và gạch đánh, nhưng không bị thương tích gì.
Đối với bị cáo Hà Minh Đ đã có hành vi cùng với Nguyễn Quang H2, Nguyễn Thanh H1 và các bị cáo khác chuẩn bị dao là loại hung khí nguy hiểm để đi đánh nhau với nhóm của Nguyễn Văn T1 và Dương Thị L1. Trong quá trình đánh nhau, Đ nhặt 01 viên gạch dưới đất lên ném trúng vai T1 nhưng không gây thương tích cho T1, sau đó Đ và L2 đều nhìn thấy K chém L1 tuy nhiên không can ngăn vì mục đích đến để đánh H1 và những người nhóm của H1, bản thân Đ không gây thương tích cho ai.
Với hành vi nêu trên, bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Hà Minh Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo không gây thương tích cho bị hại, chỉ tham gia đồng phạm với vai trò không đáng kể, quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đã ăn năn, hối cải, đã cùng các bị cáo khác bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố đẻ bị cáo được Bộ trưởng Bộ Q2 tặng Bằng khen, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là đồng phạm có vai trò không đáng kể, mặt khác hiện tại bị cáo đang là sinh viên Trường Cao đẳng T4. Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, xét thấy bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà có căn cứ chấp nhận.
. Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Minh Đ, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 613/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Minh Đ 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Giao bị cáo Hà Minh Đ cho Ủy ban nhân dân xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
3. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND T. Thái Nguyên; - VKSND TP.Thái Nguyên; - TAND TP.Thái Nguyên; - Chi cục THADS TP.Thái Nguyên; - Công an TP.Thái Nguyên; - Sở Tư pháp T. Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |