- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn T và đồng phạm,. phạm tội vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS-PT Ngày: 20-02-2023 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP
V i h nh ph n H i n
phúc h
c :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: ng Phạm Minh Tùng
ng Nguyễn Tuấn Anh
- Th
phi n a: ng Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.
- Đ i di n Vi n i
nh n d n nh Đ n Th p ha ia phi n a: Ông Nguyễn Giang Châu - Ki m sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại Tr s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp m phiên tòa công khai t phúc thẩm v án hình sự th l số: 338/2022/HS-PT ngày 22 tháng 12 năm 2022 đối v i bị cáo Trần Văn T và đ ng phạm. Do c kháng cáo của bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M đối v i bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2022/HS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984, tại Đ ng Tháp; Gi i tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp B, xã Tc, huyện H, t nh Đ ng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1 và bà Dương Thị H; C vợ và 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: bị Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp phạt 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 97/2017/HSPT ngày 14 tháng 4 năm 2017, chấp hành ong ngày 03 tháng 8 năm 2017, đã a án tích; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và c mặt tại phiên tòa.
2. Trần Thị M, sinh năm 1983, tại Đ ng Tháp; Gi i tính: Nữ; Nơi cư trú: Ấp B, xã Tc, huyện H, t nh Đ ng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1 và bà Dương Thị H; Chưa c ch ng con; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M theo yêu cầu: Luật sư Ngô Quang Thế - Văn phòng luật sư Quang Thế, thuộc Đoàn Luật sư t nh Đ ng Tháp (c mặt).
Viện kiểm sát không có kháng nghị.
NỘI D NG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong h s v án và di n bi n t i phiên tòa, n i dung v án đ c tóm t t nh sau:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 6 năm 2022, lực lượng Đ n Biên phòng C đang trực chốt gác tại ấp X, xã T, huyện H thì phát hiện Trần Văn T điều khi n xe mô tô bi n số 7XF9-91XX, phía sau ch Trần Thị M kéo theo xe đẩy, hư ng chợ C đi thành phố H, có bi u hiện nghi vấn nên lực lượng Đ n biên phòng ra tín hiệu dừng phương tiện đ ki m tra, phát hiện mặt dư i của thùng xe đẩy có chứa 1.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đ 1.210 bao hiệu JET, 500 bao hiệu HERO, 250 bao hiệu SCOTT). Xét thấy, có dấu hiệu tội phạm nên Đ n Biên phòng C chuy n h sơ v việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Trần Văn T thừa nhận liên lạc v i người ph nữ tên P (bên Campuchia) mua 1.000 bao thuốc lá hiệu JET, giá 16.200.000 đ ng; Trần Thị M mua 500 bao thuốc lá hiệu HERO, 210 bao thuốc lá hiệu JET, 250 bao thuốc lá hiệu SCOTT, giá 14.320.000 đ ng, chưa trả tiền, số thuốc lá trên do người thanh niên người Campuchia giao tại bờ sông S thuộc ấp B, xã T, huyện H. Cả hai chất thuốc lá lên xe đẩy cùng ch đến thành phố H m c đích bán cho người thanh niên tên T2 (không rõ họ, chữ lót) thì bị bắt.
Vật chứng thu giữ:
- 1.210 bao thuốc lá ngoại hiệu JET; 500 bao thuốc lá ngoại hiệu HERO; 250 bao thuốc lá ngoại hiệu SCOTT.
- 01 xe mô tô bi n số 7X-F9-91XX, nhãn hiệu ZINDA, màu sơn: Đen, đã qua s d ng. Do ông Nguyễn Thanh T3 đứng tên đăng ký đã bán cho người khác. M mua lại chưa chuy n tên đăng k . xe đẩy bằng kim loại, chiều dài thùng xe 1,8 mét, chiều rộng thùng xe 01 mét, chiều cao 0,5 mét, đã qua s d ng. Đây là tài sản của M s d ng làm phương tiện chuy n thuốc lá điếu nhập lậu.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu xám, có bàn phím, gắn sim số 0363.056.610, đã qua s d ng, của Tuấn s d ng vào việc liên lạc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2022/HS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:
1. Căn cứ vào đi m b khoản 1 Điều 191, Điều 17, đi m s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm “Tội vận chuy n hàng cấm”.
X phạt bị cáo Trần Văn T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
2. Căn cứ vào đi m b khoản 1 Điều 191, Điều 17, đi m i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị M phạm “Tội vận chuy n hàng cấm”.
X phạt bị cáo Trần Thị M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về l vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Cùng ngày 21 tháng 11 năm 2022, các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M c đơn kháng cáo v i nội dung in giảm nhẹ hình phạt, in phạt tiền hoặc in được hư ng án treo.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát bi u quan đi m cho rằng cấp sơ thẩm đã t bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M v i tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Án sơ thẩm đã em t nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối v i bị cáo. X t mức hình phạt 08 tháng tù đối v i bị cáo T và 06 tháng tù đối v i bị cáo M mà cấp sơ thẩm áp d ng đối v i các bị cáo là phù hợp. Các bị cáo có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, in hư ng án treo hoặc phạt tiền nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào m i ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án sơ thẩm đã áp d ng cho các bị cáo. Do đ , đề nghị Hội đ ng t không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối v i các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M phát bi u quan đi m: Thống nhất v i án sơ thẩm cũng như quan đi m của vị đại diện Viện ki m sát về tội danh, điều khoản của tội danh áp d ng đối v i các bị cáo T và M. Đ ng thời, vị luật sư viện d n về nguyên nhân, điều kiện, thức, phạm tội của các bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ như các bị cáo đã thành khẩn khai báo, t ra ăn năn hối cải; Cả hai bị cáo đều c trình độ học vấn thấp nên việc nhận thức pháp luật c phần hạn chế. Gia đình bị cáo M có hoàn cảnh kinh tế kh khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình đ nuôi cha mẹ già, anh bị bệnh tai biến. Bản thân bị cáo T cũng là lao động chính trong gia đình đ nuôi 04 con còn nh . Xin Hội đ ng t
em t hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và em t cho bị cáo M được hư ng án treo.
Các bị cáo không phát bi u tranh luận mà ch in Hội đ ng t
em t cho các bị cáo được hư ng án treo.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên c s n i dung v án, căn c vào các tài liệu trong h s đã đ c tranh t ng t i phiên tòa, H i đ ng xét x nh n định nh sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp v i lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp v i biên bản v việc ngày 01/6/2022, phù hợp v i lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác trong h sơ v án, đủ cơ s đ ác định: Đ có tiền chi tiêu sinh hoạt cá nhân nên các bị cáo đã c hành vi “Vận chuy n hàng cấm” là thuốc lá điếu nhập lậu số lượng 1.960 bao (trong đ 1.210 bao hiệu JET, 500 bao hiệu HERO, 250 bao hiệu SCOTT) thì bị lực lượng Biên phòng bắt quả tang cùng tang vật vào ngày 01/6/2022.
[2] Hội đ ng xét x xét thấy, hành vi của bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M là nguy hi m cho xã hội, trực tiếp đã âm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại của Nhà nư c ta. Các bị cáo là người đã trư ng thành có tinh thần, th chất phát tri n bình thường, c đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội v i lỗi cố , động cơ m c đích phạm tội là đ tư lợi cá nhân. Các bị cáo thừa biết việc vận chuy n hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo v n cố tình thực hiện chứng t hành vi của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã t các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M về tội “Vận chuy n hàng cấm” theo đi m b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội. X t mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối v i các bị cáo là hoàn toàn phù hợp v i tính chất, mức độ nguy hi m của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối v i các bị cáo. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M cùng c đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, in được hư ng án treo hoặc phạt tiền nhưng không cung cấp được tình tiết nào m i ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã em t áp d ng cho các bị cáo. Do đ , Hội đ ng xét x không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối v i các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M.
[4] X t đề nghị của vị đại diện Viện ki m sát tại phiên tòa đối v i các bị cáo Trần Văn T và Trần ThịMlàc căncứ vàphùhợppháp luậtnên Hộiđ ngxétx chấp nhận.
X t đề nghị của vị luật sư là chưa phù hợp như Hội đ ng xét x đã nhận định phần trên nên không chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ đi m a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt, in được hư ng án treo hoặc phạt tiền của các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M. Giữ nguyên phần quyết định bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối v i các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M.
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M cùng phạm tội “Vận chuy n hàng cấm”.
Căn cứ vào đi m b khoản 1 Điều 191; Điều 17; đi m s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
X phạt bị cáo Trần Văn T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Căn cứ vào đi m b khoản 1 Điều 191; Điều 17; đi m i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
X phạt bị cáo Trần Thị M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự.
Các bị cáo Trần Văn T và Trần Thị M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí phúc thẩm hình sự.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (V GĐKT 1); - VKSND T nh; - Ban nội chính T nh ủy; - S Tư pháp T nh; - Trại tạm giam CAT; - TAND huyện H (04 bản); - VKSND huyện H; - Chi c c THADS huyện H; - Cơ quan CSĐT CA huyện H; - Cơ quan THAHS CA huyện H; - Cơ quan THAHS Công an T nh; - Phòng h sơ nghiệp v Công an T nh; - Phòng KTNV-THA Tòa án T nh; - Bị cáo; - Lưu VT, HSVA, (M). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |