- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức N phạm tội khoản 1 Điều 178 BLHS - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Trần Đức N cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện R, tỉnh Đăk Nông giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS-PT Ngày 16-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Chương
Các Thẩm phán tham gia: Ông Võ Văn Vinh và ông Lê Quốc Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 16-6-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 60/2023/TLPT-HS ngày 05-5-2023 đối với bị cáo Trần Đức N, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2023/HS-ST ngày 21-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 57/2023/QĐXXPT-HS ngày 01-6-2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông, đối với bị cáo:
Trần Đức N, sinh năm 1974 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố A, thị trấn K, huyện R, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức M và bà Phùng Thị T (đều đã chết); sống chung với chị Phạm Hồng H không đăng ký kết hôn và có 01 con; nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 261/2012/HSPT ngày 25-7-2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, bị xử phạt 03 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, ngày 22-02-2013 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 25-8-2017 chấp hành xong án phí, được xóa án tích; bị bắt tạm giam từ ngày 12-10-2022 đến ngày 10-01-2023; tại ngoại – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27-7-2022, Trần Đức N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 48A-085.20 đến nhà chị Phạm Hồng H (hai bên không còn chung sống với nhau) thì thấy anh Hoàng Văn T đang ngồi chơi nhưng chị H chốt cửa nhà, N yêu cầu chị H mở cửa nhưng chị H không mở, N đứng bên ngoài vừa lớn tiếng vừa kéo cửa để vào nhà, không mở được cửa nên N trèo cửa sổ phòng ngủ của chị H vào nhà; thấy N vào được nhà nên anh T mở cửa đi về nhà. Sau đó, N và chị H tranh cãi thì N thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade, màu đỏ bạc đen, biển kiểm soát 48H1-xxx.xx của anh T đang để tại nhà chị H nên N lấy 01 cái cuốc đập nhiều cái vào xe dẫn đến cuốc bị gẫy, N tiếp tục dùng chân đạp đổ xe và lấy 01 cây gậy bằng kim loại dài khoảng 02m đập phá xe, kéo xe xuống ao nước trước nhà chị H. Ngoài ra, N còn dùng chân đạp ngã xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH150i, biển kiểm soát 48H1-xxx.xy làm bung phần ốp nhựa phía trước xe và ném chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy M33 làm hư hỏng hoàn toàn, tuy nhiên đây là các tài sản thuộc quyền sử hữu hợp pháp của N.
Kết luận định giá tài sản số: 25/KL-ĐGTS ngày 22-9-2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Đăk R’Lấp kết luận: Các bộ phận bị hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade, màu đỏ bạc đen, biển kiểm soát 48H1-xxx.xx tại thời điểm bị thiệt hại có giá trị 16.067.000 đồng.
Bản án số: 19/2023/HS-ST ngày 21-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Đức N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Đức N 01 năm tù, tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giam từ ngày 12-10-2022 đến ngày 10-01-2023. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 29-3-2023, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thừa nhận bị Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp xử phạt về tội“Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm:
Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Đức N về tội“Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; tại phiên tòa bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Trần Đức N.
Bị cáo không bào chữa, tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Bản án số: 19/2023/HS-ST ngày 21-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông kết án bị cáo Trần Đức N về tội“Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, không oan.
. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới Kỷ niệm chương “Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù, đầy” của bố ruột bị cáo ông Trần Đức M (bản gốc). Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Căn cứ quy định về điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Điều 1 Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần áp dụng pháp luật và hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2023/HS-ST ngày 21-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông: Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Đức N cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện R, tỉnh Đăk Nông giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Đăk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông; - CQCSĐT CA huyện Đăk R’Lấp; - VKSND huyện Đăk R’Lấp; - TAND huyện Đăk R’Lấp; - Chi cục THADS huyện R; - UBND thị trấn K, huyện R; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: THS, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Hồng Chương |