vanban.org

Bản án 40/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Bích T được ly hôn với ông Bùi Đình M (Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/2002 Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T (nay là phường T, thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp ngày 26/11/2002).

Về con chung: Ông Bùi Đình M giao cháu Bùi Ngọc N, sinh ngày 27/12/2006 cho bà Tô Bích T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tô Bích T không yêu cầu ông Bùi Đình M cấp dưỡng nuôi con chung. Sau ly hôn, bà Tô Bích T và ông Bùi Đình M đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TÔ BÍCH T - BUI ĐÌNH M TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Bích T được ly hôn với ông Bùi Đình M (Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/2002 Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T (nay là phường T, thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp ngày 26/11/2002).
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST
Ngày 04-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Sơn Tây;

2. Bà Võ Thị Hồng Tươi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tô Bích T, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 4, khu phố K, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Bùi Đình M, sinh năm 1978; địa chỉ: Nhà trọ H, tổ 4, khu phố K, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 3 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Tô Bích T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Bích T và ông Bùi Đình M có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 03 (Ba) năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T (nay là phường T, thành phố T), tỉnh Bình Dương vào năm 2002. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống tại địa bàn thị xã T (nay là thành phố T) cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi, vợ chồng sống cùng nhà nhưng mạnh ai lấy sống, không có sự quan tâm chăm sóc, yêu thương nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài dẫn đến việc bà T không còn tình cảm, không còn muốn chung sống với ông M nên yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với ông Bùi Đình M.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung, gồm: Cháu Bùi Như L, sinh ngày 26/4/2000 và cháu Bùi Ngọc N, sinh ngày 27/12/2006. Hiện con chung đang ở cùng bà T. Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Bùi Ngọc N và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Cháu Bùi Như L đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về phía bị đơn ông Bùi Đình M:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu ông Bùi Đình M có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Tô Bích T nhưng ông M không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 04/4/2023 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hôn nhân, bà Tô Bích T và ông Bùi Đình M có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn và yêu cầu giải quyết về con chung là có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn làm việc nhưng bị đơn vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 25/4/2023 và ngày 04/5/2023 nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Bích T và ông Bùi Đình M là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T (nay là phường T, thành phố T), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/2002 ngày 26/11/2002 nên quan hệ hôn nhân của bà Tô Bích T và ông Bùi Đình M là hợp pháp.

Bà Tô Bích T xác định cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, hai vợ chồng sống cùng nhà nhưng mạnh ai lấy sống. Mâu thuẫn kéo dài dẫn đến việc bà T không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn ông M. Bản thân ông M sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hòa giải mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bị đơn không có mặt và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ bị đơn không muốn hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua đó thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng của bà T đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Tô Bích T yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, hai vợ chồng có hai con chung, gồm: Cháu Bùi Như L, sinh ngày 26/4/2000 và cháu Bùi Ngọc N, sinh ngày 27/12/2006. Hiện con chung đang ở cùng bà T. Xét con chung hiện đang do bà T nuôi dưỡng, ông M vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai cháu Bùi Ngọc N xác định có nguyện vọng được sống chung với bà T. Qua đó thấy rằng việc giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Cháu Bùi Như L đã trưởng thành nên Toà án không xem xét, giải quyết.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Tô Bích T không yêu cầu ông Bùi Đình M cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Tòa án ghi nhận.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, nên có cơ sở chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Bà Tô Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Bích T được ly hôn với ông Bùi Đình M (Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/2002 Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T (nay là phường T, thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp ngày 26/11/2002).

2. Về con chung: Ông Bùi Đình M giao cháu Bùi Ngọc N, sinh ngày 27/12/2006 cho bà Tô Bích T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tô Bích T không yêu cầu ông Bùi Đình M cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau ly hôn, bà Tô Bích T và ông Bùi Đình M đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì quyền lợi hợp pháp của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Tô Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007476 ngày 20/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên (nay là thành phố Tân Uyên), tỉnh Bình Dương.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ