vanban.org

Bản án 40/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ngô Thị Lan Ph và ông Lê Minh P.

Về nuôi con chung: 1 Giao hai con chung Lê Minh H, sinh ngày 09/12/2014 và Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 06/5/2019 cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ngô Thị Lan Ph và ông Lê Minh P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14 - 3 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thanh Liêm

Ông Tạ Bửu Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Lan Ph, sinh năm: 1989; trú tại: ấp Tân Phong B, xã Hoà Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Minh P, sinh năm: 1989; trú tại: ấp Tân Phong B, xã Hoà Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Bà Ngô Thị Lan Ph trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Năm 2014, bà Ph và ông Lê Minh P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung. Ông P hay ăn nhậu, ghen tuông, chửi xúc phạm và hăm dọa giết bà. Bà Ph xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông P.

Về nuôi con chung: Ông P và bà Ph có 02 người con chung là Lê Minh H, sinh ngày 09/12/2014 và Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 06/5/2019, đang sống với bà Ph. Khi ly hôn, bà Ph yêu cầu nuôi hai con, yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi tháng 1.600.000 đồng.

Về tài sản và nợ chung: Bà Ph xác định không có.

Ông Lê Minh P trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2014, ông P và bà Ngô Thị Lan Ph tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, bà Ph hay đi làm về khuya. Nay bà Ph xin ly hôn, ông P xin đoàn tụ. Trường hợp bà Ph cương quyết ly hôn thì ông P đồng ý.

Về nuôi con chung: Ông P và bà Ph có 02 người con chung là Lê Minh H, sinh ngày 09/12/2014 và Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 06/5/2019, đang sống với bà Ph. Khi ly hôn, ông P yêu cầu nuôi cháu Vy, đồng ý giao cháu Huy cho bà Ph nuôi dưỡng, không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Ông P xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và bổ sung tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hôn nhân: Năm 2014, ông Lê Minh P và bà Ngô Thị Lan Ph tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà Ph trình bày: Do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung. Ông P hay ăn nhậu, không quan tâm vợ con, ghen tuông, chửi xúc phạm bà. Bà Ph xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông P. Ông P thừa nhận có nhậu, có đánh bà Ph nhưng do bà Ph hay đi làm về khuya, không quan tâm chồng con. Nay bà Ph xin ly hôn, ông P đồng ý. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông P và bà Ph không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Lan Ph được ly hôn với ông Lê Minh P.

[3] Về con chung: Ông P và bà Ph có 02 người con chung là Lê Minh H, sinh ngày 09/12/2014 và Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 06/5/2019, đang sống với bà Ph. Khi ly hôn, bà Ph yêu cầu nuôi hai con, theo nguyện vọng của cháu Huy. Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu Huy muốn sống với mẹ. Tại phiên tòa, ông P yêu cầu được nuôi cháu Vy nhưng bà Ph không đồng ý. Xét thấy, ông P và bà Ph đều xác định cháu Vy hiện nay đang sống với bà Ph và đang học mẫu giáo tại Trường mầm non Vàng Anh, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, ông P yêu cầu nuôi cháu Vy nhưng hiện nay ông P đang đi làm tại Cà Mau thì điều kiện đưa rước và nuôi con ăn học không bằng bà Ph. Hơn nữa cháu Vy là cháu gái, còn nhỏ tuổi và đang sống với bà Ph gần trường mẫu giáo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Vy cho bà Ph trực tiếp nuôi là phù hợp. Ông P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Bà Ph yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi tháng 1.600.000 đồng (800.000 đồng/tháng/người) là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, nhằm đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, liên tục hàng tháng cho đến khi hai cháu Minh Huy và Minh Vy đủ 18 tuổi.

[5] Về tài sản và nợ chung: Ông P và bà Ph xác định không có

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ngô Thị Lan Ph và ông Lê Minh P.

2. Về nuôi con chung:

2.1 Giao hai con chung Lê Minh H, sinh ngày 09/12/2014 và Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 06/5/2019 cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2.2 Buộc ông Lê Minh P cấp dưỡng nuôi hai cháu Lê Minh H và Lê Ngọc Minh V cùng với bà Ph, mỗi tháng 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm ngàn đồng), liên tục hàng tháng cho đến khi hai cháu Minh Huy và Minh Vy đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp con đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì ông P vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con.

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 07/02/2023 nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002777 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ.

Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con (chưa nộp).

Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ