- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Phạm Quang T xin ly hôn chị Hoàng Thị C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Quang T và chị Hoàng Thị C
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST Ngày 18-8-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hải Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Lẫy
Ông Vũ Văn Hoá
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hữu Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đô - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 322/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Quang T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số nhà B, tổ H (tổ P cũ), phường T, quận K, thành phố H. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Số nhà B, tổ H (tổ P cũ), phường T, quận K, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Phạm Quang T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015, anh và chị Hoàng Thị C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 13/4/2015 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố H. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống cùng bố mẹ anh tại số nhà B, tổ H, phường T, quận K, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do hai bên không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau, cuộc sống và kinh tế riêng biệt. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị C.
- Về con chung: Anh và chị C có một con chung tên là Phạm Bảo A, sinh ngày 19/11/2016. Ly hôn, anh đề nghị Toà án giao con cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh và chị C tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Hoàng Thị C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015, chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố H. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống cùng với bố mẹ chồng tại số nhà B, tổ H (tổ P cũ), phường T, quận K, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, thời gian gần đây anh T có quan hệ ngoại tình nên anh T đã nộp đơn xin ly hôn với chị, chị không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Chị và anh T có một con chung tên là Phạm Bảo A, sinh ngày 19/11/2016. Trường hợp ly hôn, chị đề nghị Toà án giải quyết giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị và anh T tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị không có ý kiến, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Phạm Quang T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là chị Hoàng Thị C vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không tham gia phiên toà theo các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Quang T được ly hôn chị Hoàng Thị C.
Về con chung: Anh Phạm Quang T và chị Hoàng Thị C có một con chung là Phạm Bảo A, sinh ngày 19/11/2016. Giao con chung cho chị Hoàng Thị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Phạm Quang T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý, bị đơn là chị Hoàng Thị C có nơi cư trú tại số nhà B, tổ H (tổ P cũ), phường T, quận K, thành phố H nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố H.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Phạm Quang T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị Hoàng Thị C đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
. Quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Quang T và chị Hoàng Thị C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố H vào ngày 13/4/2015. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Quang T và chị Hoàng Thị C là hôn nhân hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Căn cứ vào lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng và biên bản xác minh tại chính quyền địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống vợ chồng anh T, chị C hoà thuận được một thời gian đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do anh chị không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không đạt kết quả mà ngày càng trầm trọng. Từ năm 2022 đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh T, chị C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của anh T xin ly hôn với chị C.
. Về con chung: Anh T và chị C có một con chung tên là Phạm Bảo A, sinh ngày 19/11/2016. Ly hôn, anh T đề nghị Toà án giao con cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con anh và chị C tự thoả thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp ly hôn, chị C cũng đề nghị Toà án giao con cho chị tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con chị và anh T tự thoả thuận, chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, cần giao cho chị C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với quy định tại các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T: Giao con Phạm Bảo A cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh T và chị C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về tài sản chung: Anh T và chị C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Quang T và chị Hoàng Thị C
2. Về con chung: Anh Phạm Quang T và chị Hoàng Thị C có một con chung tên là Phạm Bảo A, sinh ngày 19/11/2016. Giao con Phạm Bảo A cho chị Hoàng Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phạm Quang T và chị Hoàng Thị C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung: Anh Phạm Quang T và chị Hoàng Thị C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Anh Phạm Quang T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003809 ngày 24/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố H. Anh Phạm Quang T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Quang T, chị Hoàng Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - TAND TP. H; - VKSND TP. H; - VKSND quận K; - Chi cục THADS quận K; - UBND phường T, quận K, thành phố H, (ĐKKH số 17 đk ngày 13/4/2015); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Hải Hà |