vanban.org

Bản án 40/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Lê Hồng P.

2/ Về con chung: Giao cho anh Lê Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Lê Bảo L, sinh ngày 27/4/2019. AnhP không yêu cầu chịL phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anhP. Chị Nguyễn Thị L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung và được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị L xin ly hôn anh Lê Hồng P"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Lê Hồng P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
Tỉnh Thái Bình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 17/5/2023
V/v: “ Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Quảng.

2. Bà Tô Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2023/TLST- HNGĐ ngày 05/01/2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXX- ST ngày 25/4/2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn T, huyện H, Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Lê Hồng P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn T, huyện H, Thái Bình.

( Chị L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; anhP có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị L và anhP kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S (nay là thị trấn T), huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 06/02/2014. Sau khi kết hôn, chị L và anhP chung sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay chịL và anhP sống ly thân. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chịL đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giải quyết cho chịL được ly hôn với anhP. Đối với yêu cầu của anhP xin được đoàn tụ chị L không đồng ý. Do Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành, bản thân chịL phải đi điều trị bệnh trong Thành phố Hồ Chí Minh, chịL đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử vụ án ly hôn vắng mặt chị theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị L và anhP có một con chung là Lê Bảo L, sinh ngày 27/4/2019. Từ khi vợ chồng chị sống ly thân con chung sống cùng anh P, sau khi ly hôn chịL đồng ý để con chung cho anh P nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: ChịL không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, Bị đơn là anh Lê Hồng P trình bày: Anh P và chị L kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S (nay là thị trấn T), huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 06/02/2014. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng đó chỉ là những va chạm nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày. Từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay anh và chịL sống ly thân. Trong quá trình Tòa án hòa giải anh đã nói chuyện với chịL để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng chịL không đồng ý. Nay chịL có đơn xin ly hôn anhP, xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anhP không đồng ý ly hôn với chịL. Nếu chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn thì tùy chịL giải quyết.

Về con chung: AnhP và chịL có một con chung là Lê Bảo L, sinh ngày 27/4/2019. Từ khi vợ chồng chị sống ly thân con chung sống cùng anhP. Nếu phải ly hôn, anh P xin được nuôi dưỡng con chung, anh P không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung: Anh P không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 24/4/2023, Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Tiền Hải cung cấp như sau: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hồng P kết hôn trên sơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S (nay là thị trấn T), huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 06/02/2014. Về con chung: Chị L và anhP có một con chung là Lê Bảo L, sinh ngày 27/4/2019. Về tài sản chung: Chính quyền địa phương không nắm được cụ thể. Quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án ly hôn giữa chịL và anh P theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Nguyên đơn và Bị đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và tham gia phiên tòa. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Lê Hồng P; Về con chung: Giao con chung Lê Bảo L, sinh ngày 27/4/2019 cho anh Lê Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết; Về tài sản chung: Không giải quyết; về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn là anh Lê Hồng P có hộ khẩu thường trú tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại các Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hồng P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2]. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hồng P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S (nay là thị trấn T), huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 06/02/2014. Tại thời điểm kết hôn, chịL và anh P đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Đó là hôn nhân hợp pháp. Chị L trình bày, sau khi kết hôn, chịL và anhP chung sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp. Anh P xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng đó chỉ là những va chạm trong cuộc sống hàng ngày. Trong quá trình giải quyết vụ án, chịL vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn anhP vì tình cảm vợ chồng không còn. AnhP xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và không đồng ý ly hôn với chịL.

Xét yêu cầu của chị L về việc xin ly hôn anhP, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống giữa chịL và anhP đã xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, từ tháng 8 năm 2022 cho cho đến nay chịL và anh P không chung sống cùng nhau, quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế. Ngày 21/10/2022, vụ án hôn nhân gia đình theo đơn khởi kiện của chịL đã được Trung tâm hòa giải đối thoại Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải thụ lý và tiến hành các thủ tục hòa giải nhưng đều không hòa giải được và chịL có đơn đề nghị chuyển vụ việc sang Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng chịL vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chịL được ly hôn anhP. Mặc dù anhP xin đoàn tụ nhưng anhP không đưa ra được các biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng trở về đoàn tụ, anhP và chịL vẫn sống mỗi người một nơi. Điều đó chứng tỏ, hôn nhân của chịL và anhP đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chịL, giải quyết cho chịL được ly hôn với anhP là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Chị L và anhP có một con chung là Lê Bảo L, sinh ngày 27/4/2019. Từ khi vợ chồng chị sống ly thân con chung sống cùng anhP. Nguyện vọng của chịL sau khi ly hôn là đồng ý để con chung cho anhP nuôi dưỡng. AnhP có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chịL phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anhP. Xét thấy, con chung của chịL và anhP là cháu Lê Bảo L hiện đang sống cùng anhP, chịL và anhP không có tranh chấp về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Vì vậy, để tạo điều kiện cho sinh hoạt và học tập của cháu Long. Hội đồng xét xử giao cho anh Lê Hồng P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Lê Bảo L là phù hợp với quy định tại điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. AnhP không yêu cầu chịL phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anhP.

. Về tài sản chung: ChịL và anhP không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5, khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Lê Hồng P.

2/ Về con chung: Giao cho anh Lê Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Lê Bảo L, sinh ngày 27/4/2019. AnhP không yêu cầu chịL phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anhP.

Chị Nguyễn Thị L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung và được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

3/ Về tài sản chung: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

4/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) chịL đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0002256 ngày 05/01/2023.

5/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/5/2023).

Cỡ chữ