- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Trần Thị H và ông Đặng Văn A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Trần Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10/3/2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Điệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Hiếu
2. Bà Nguyễn Thị Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ không tham gia phiên tòa .
Ngày 10 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khA vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 648/2022/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, về việc: “Ly hôn ”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1967
Địa chỉ: Số 262, tổ 24, ấp L, xã B, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long
Bị đơn: Ông Đặng Văn A, sinh năm 1969 ( vắng mặt)
Địa chỉ : Số 262, tổ 24, ấp L, xã B, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 29 /11 /2022, biên bản không tiến hành hòa giải được cũng như tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông A qua mai mối tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long được Ủy ban nhân dân xã B, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 31/12/2002. Sau khi kết hôn bà về sống chung bên gia đình ông A, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông A thường xuyên ăn nhậu về đánh bà, bà đã khuyên can nhiều lần nhưng ông không sửa đổi, nên tháng 12/2021 bà đi làm thuê Đồng Nai, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không còn sống chung. Nay bà Trần Thị H yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn A.
Về con chung: có 03 con chung tên Đặng Minh V, sinh năm 1987, Đặng Minh T, sinh năm 1993 và Đặng Minh T, sinh năm 1999, các con đã trưởng thành bà H không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khA chứng cứ và hòa giải hai lần cho ông Đặng Văn A đến Tòa án mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, có người nhà nhận thay, bà H cho rằng ông A biết Tòa án mời đến để giải quyết vụ kiện, đến ngày làm việc ông A không đến và không gửi bản khai ý gì về việc bà H yêu cầu ly hôn với ông. Vì vậy căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị đơn Đăng Văn A vắng mặt phiên tòa lần 2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bà Trần Thị H yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn A, ông A còn đăng ký hộ khẩu tại ấp L, xã B, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ được quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử đã gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hai lần ông Đặng Văn A đến Tòa án giải quyết vụ kiện, ông A không đến. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết vắng mặt ông Đặng Văn A.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn A cả hA có kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân xã B, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 156, ngày 31/12/2002, nên đây hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Xét về mâu thuẫn tại phiên tòa hôm nay bà H khai vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông A không lo cho vợ, đi nhậu về cự cải và đánh bà, nên bà đi làm thuê ở Đồng Nai từ năm 2021 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, ông A đến Tòa án giải quyết vụ kiện ly hôn, ông A không đến và không gửi bản khA ý kiến hay yêu cầu gì về việc bà H yêu cầu ly hôn với ông. Ông A không đến cũng như không cung cấp chứng cứ tài liệu gì cho việc có đồng ý ly hôn với bà H hay không xem như từ chối cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Xét vợ chồng chung sống phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, nhưng tình cảm giữa bà H và ông A đã mâu thuẫn trầm trọng, hiện nay cả hA không còn sống chung, mỗi người sống một nơi, hôn nhân không đạt được, đã vi phạm nghiêm trọng tình cảm vợ chồng. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Thị H được ly hôn với ông Đặng Văn A là có cơ sở chấp nhận được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: có 03 con chung tên Đặng Minh V, sinh năm 1987, Đặng Minh T, sinh năm 1993 và Đặng Minh T, sinh năm 1999, các con đã trưởng thành bà H không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 177, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Trần Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị H được ly hôn với ông Đặng Văn A.
2. Về nuôi con chung: có 03 con chung tên Đặng Minh V, sinh năm 1987, Đặng Minh T, sinh năm 1993 và Đặng Minh T, sinh năm 1999, các con đã trưởng thành bà H không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Buộc bà Trần Thị H nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lA thu số 0004525 ngày 29/11/2022 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long H, bà H không phải nộp thêm .
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Án xử sơ thẩm công khA báo cho các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được thông báo, niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Long Hồ - TAND tỉnh Vĩnh Long - THADS huyện Long Hồ - Các đương sự ; - Lưu HSVA | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Điệp |