- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 227, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST Ngày 19-6-2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Đoàn Văn Cương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST-DS ngày 22/5/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị P, sinh năm 1998 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Lương Văn T, sinh năm 1997 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn H, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Trần Thị P trình bày: Chị kết hôn với anh Lương Văn T ngày 22/01/2018, trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 3/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường sảy ra mâu thuẫn cãi nhau không đồng nhất quan điểm, không hòa thuận được để xây dựng hạnh phúc gia đình. Ngày 05/3/2023 chị bỏ về gia đình mẹ đẻ sinh sống, anh T không đón gọi, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ đó. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Lương Thị Quỳnh C, sinh ngày 11/9/2018 và Lương Thị Trà M, sinh ngày 06/11/2020. Hiện các con đang ở cùng anh T, các con khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn chị xin được nuôi cháu M, còn để anh T nuôi cháu Chi, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm công nhân tại công ty ở xã Tân dĩnh, huyện Lạng Giang thu nhập bình quân khoảng hơn tám triệu đồng/tháng, chị đang ở nhờ gia đình mẹ đẻ ở thôn T, xã T, huyện Lạng Giang điều kiện kinh tế gia đình bình thường. Nếu được nuôi con chị cam đoan sẽ chăm sóc và nuôi dưỡng con tốt.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Lương Văn T trình bày: Chị P trình bày về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn là đúng. Ngày 05/3/2023 chị P bỏ về mẹ đẻ ở, anh có đón gọi nhưng chị Phượng không về chung sống. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, nên anh không đồng ý ly hôn chị P.
Về con chung: Như chị P trình bày là đúng, nay nếu ly hôn anh xin nuôi cả hai con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Nếu ly hôn, vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay chị P có mặt giữ nguyên yêu cầu trên. Anh T có mặt giữ nguyên yêu cầu trên và trình bày thêm xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh đồng ý ly hôn chị P, xin được nuôi cả hai con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân, các đương sự trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị P và anh T đều có mặt. Do vậy đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị P và anh T. Về con chung: Giao chị P nuôi cháu M, giao anh T nuôi cháu C. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Chị P và anh T đều không đề nghị giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; chị P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Trần Thị P khởi kiện xin ly hôn anh Lương Văn T, nơi cư trú: Thôn H, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Chị P xin được ly hôn anh T, đề nghị giải quyết về con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay chị P và anh T đều có mặt. Nên HĐXX áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị P kết hôn với anh Lương Văn T ngày 22/01/2018, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến tháng 3/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không bảo được nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ ngày 05/3/2023. Quá trình giải quyết vụ án, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị P thiết tha xin được ly hôn, nhưng phía anh T không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa hôm nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn cả chị P và anh T đều thỏa thuận xin được thuận tình ly hôn. HĐXX xét thấy, thỏa thuận xin được thuận tình ly hôn của các đương sự tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Xét là phù hợp Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị P, anh T sinh được hai con chung là Lương Thị Quỳnh C, sinh ngày 11/9/2018 và Lương Thị Trà M, sinh ngày 06/11/2020. Hiện các con đang ở cùng anh T, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn chị P xin được nuôi cháu M, những phía anh T xin được nuôi cả hai con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy các bên đều có điều kiện nuôi con như nhau, nên để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ, tạo điều kiện cho các bên có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con được tốt hơn, cần giao chị P nuôi cháu M, còn để anh T nuôi cháu C. Về cấp dưỡng nuôi con, chị P và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết, anh T, chị P được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh T, chị P thực hiện quyền này, xét là phù hợp các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay cả chị P và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 227, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị P và anh Lương Văn T.
2. Về nuôi con chung: Xử giao chị Trần Thị P nuôi con chung là Lương Thị Trà M, sinh ngày 06/11/2020. Giao anh Lương Văn T nuôi con chung là Lương Thị Quỳnh C, sinh ngày 11/9/2018; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Anh T, chị P được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở chị anh T, chị P thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Trần Thị P chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005486 ngày 17/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự có mặt biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Án xử sơ thẩm công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang. - VKSND huyện Lạng Giang - Chi cục THA huyện Lạng Giang - UBND xã D, Lạng Giang, Bắc Giang - Các đương sự - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Thân Trọng Khôi |