- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T1 xin ly hôn anh T2"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Huyền T1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K TỈNH H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-8-2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Đức Huấn;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Dựng;
2. Ông Hoàng Văn Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Chính Hướng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh H tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 31/8/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã K, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 232/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/7/2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Huyền T1, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Tổ 3, khu dân cư Đ, phường P, thành phố U, tỉnh Q.
Bị đơn: Anh Phạm Công T2, sinh năm 1991.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn ĐS, xã HH, thị xã K, tỉnh H.
Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Phú Sơn 4-Cục C10-Bộ Công an. Địa chỉ: Xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Chị T1, anh T2 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Dương Huyền T1 trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Phạm Công T2, sinh năm 1991 vào ngày 16/3/2022 trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HH, thị xã K. Sau ngày cưới chị về ngày gia đình anh T2 chung sống. Quá trình chung sống tại đây được thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T2 thường xuyên chơi bời, không quan tâm đến gia đình. Do anh T2 chời bời, nghiện ngập nên bị Tòa án xử phạt tù. Kể từ thời điểm đó chị về gia đình bố mẹ đẻ tại Tổ 3, khu dân cư Đ, phường P, thành phố U, tỉnh Q sinh sống. Chị và anh T2 không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phạm Công T2.
2. Quan hệ về con chung: Chị và anh Phạm Công T2 có 01 con chung là Phạm Đức Mạnh, sinh ngày 08/9/2021. Nay ly hôn, vì con còn nhỏ, đang sinh sống ổn định cùng chị và gia đình bên ngoại, anh T2 đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam nên chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con và tự nguyện không yêu cầu anh T2 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Quan hệ về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo Bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ bị đơn- anh Phạm Công T2 trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Vào đầu năm 2022, anh kết hôn với chị Dương Huyền T1 tại Ủy ban nhân dân xã HH, thị xã K. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Đến ngày 26/4/2022, anh bị bắt vì có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong thời gian anh bị bắt, anh và chị T1 không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T1 có đề nghị ly hôn với anh, anh đồng ý.
2. Quan hệ về con chung: Vợ chồng anh có 01 con là Phạm Đức Mạnh, sinh ngày 21/9/2021. Do anh đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, thời gian còn lại là 08 năm 03 tháng nên đề nghị Tòa án giao con cho chị T1 nuôi dưỡng. Sau này anh có điều kiện thì hai bên sẽ bàn bạc về chuyện nuôi con.
3. Quan hệ về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Đại diện VKSND thị xã K phát biểu ý kiến, xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Huyền T1. Xử cho chị Dương Huyền T1 được ly hôn anh Phạm Công T2; quan hệ về con chung: Giao cho chị Dương Huyền T1 trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Đức Mạnh, sinh ngày 08/9/2021 đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T1 về việc không yêu cầu anh T2 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; về án phí: Chị Dương Huyền T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Dương Huyền T1 khởi kiện tranh chấp về ly hôn, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn-anh Phạm Công T2 đăng ký HKTT tại: Thôn ĐS, xã HH, thị xã K nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã K theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Chị T1, anh T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai và đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Huyền T1 kết hôn với anh Phạm Công T2 vào ngày 16/3/2022 trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HH, thị xã K Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống tại gia đình anh T2 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T2 mải chơi, vi phạm pháp luật hình sự, bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Phú Sơn 4-Cục C10-Bộ Công an. Từ sau khi anh T2 bị bắt tạm giam, chị T1 về gia đình bên ngoại sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T1, anh T2 đã trầm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị T1 được ly hôn anh T2.
. Quan hệ về con chung: Chị T1 và anh T2 có một con là Phạm Đức Mạnh, sinh ngày 08/9/2021. Nay ly hôn chị T1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con và tự nguyện không yêu cầu anh T2 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, còn anh T2 đồng ý giao con cho chị T1 nuôi dưỡng. Xét điều kiện nuôi con của hai bên đương sự thì thấy: Anh T2 hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam; sau khi anh T2 bị tạm giam, chị T1 trực tiếp đưa con về gia đình bên ngoại sinh sống, hai mẹ con có cuộc sống ổn định; bà Đỗ Thị Vân-Mẹ đẻ chị T1 cam đoan sẽ tạo mọi điều kiện về chỗ ở và hỗ trợ chị T1 trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ giao cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Đức Mạnh là phù hợp với quy định tại tại các điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T1 về việc không yêu cầu anh T2 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều: 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Huyền T1. Xử cho chị Dương Huyền T1 ly hôn anh Phạm Công T2.
2. Về con chung: Giao cho chị Dương Huyền T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Phạm Đức Mạnh, sinh ngày 08/9/2021 đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T1 về việc không yêu cầu anh T2 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Anh Phạm Công T2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Dương Huyền T1 phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được đối trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị T1 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã K theo biên lai số AA/2021/0004570 ngày 29/6/2023. Chị Dương Huyền T1 đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã K; - Chi cục THADS thị xã K; - UBND xã HH (để vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Đức Huấn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đức Huấn |