- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số:40/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 5 – 2023 V/v: “Không công nhận vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung”"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:40/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 5 – 2023 V/v: “Không công nhận vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Quốc Thành
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Hà Quang Thịnh
2. Ông Phạm Quốc Vượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Khải Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 24/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023 về việc “Không công nhận là vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1979
- Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1975
Cùng địa chỉ: Tổ 4, ấp Quản Lợi A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước
(Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Bà Thư và ông Bùi Văn H chung sống với nhau từ năm 1995, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc cho đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau nên đã sống ly thân. Bà Thư thấy cuộc sống tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án tuyên không công nhận bà Thư với ông Bùi Văn H là vợ chồng. Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Thư với ông Hòa có 02 con chung tên Bùi Ngọc T, sinh năm 1996 và Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2006. Hiện nay cháu Bùi Ngọc T đã trưởng thành tự lạo động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Thư nguyên vọng được nuôi con chung Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2006 đến khi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Thư tự thỏa với ông Hòa về việc cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Bà Thư với ông Hòa tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà Thư khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Bị đơn ông Bùi Văn H trình bày: Ông Hòa và bà Nguyễn Thị Thanh T chung sống với nhau từ năm 1995, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc cho đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau nên đã sống ly thân đến nay. Ông Hòa thấy cuộc sống tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục nên ông Hòa đồng theo yêu cầu của bà Thư về việc yêu cầu Tòa án không công nhận ông Hòa với bà Thư là vợ chồng. Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông Hòa với bà Thư có 02 con chung tên Bùi Ngọc T, sinh năm 1996 và Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2006. Hiện nay con chung Bùi Ngọc T đã trưởng thành tự lạo động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Hòa tự nguyện giao con chung Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2006 cho bà Nguyễn Thị Thanh T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành tự lao động được. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Hòa tự thỏa với bà Thư về việc cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Ông Hòa tự thoả thuận với bà Thư nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Ông Hòa khai không có nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, trình bày của các đương sự và tranh tụng tại phiên tòa.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1979 và ông Bùi Văn H, sinh năm 1975 chung sống với nhau từ năm 1995 không có đăng ký kết hôn là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình nên đề nghị áp dụng Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 2, chương I, Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 để tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Bùi Văn H là vợ chồng.
-Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự giao con chung Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2006 cho bà Nguyễn Thị Thanh T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành tự lao động được
-Về cấp dưỡng: Đương sự tự thỏa thuận nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
-Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
-Về nợ chung: Đương sự thống nhất khai không có nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyen đơn đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng, bị đơn ông Bùi Văn H có nơi cư trú tại: Tổ 4, ấp Quản Lợi A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước. Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào và khoản 01 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày bà Thư và ông Bùi Văn H chung sống với nhau vào năm 1995 và không có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống bà Thư và ông Hòa có nhiều mâu thuẫn, trong quá trình giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa bà Thư và ông Hòa đều xác nhận vợ chồng chung sống nhưng không đăng ký kết hôn nguyên nhân do bà Thư và ông Hòa bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, tình cảm giữa bà Thư và ông Hòa trầm trọng không thể chung sống hạnh phúc được nên bà Thư và ông Hòa yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng.
- Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Nguyễn Thị Thanh T và ông Bùi Văn H sống chung với nhau từ năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật đã vi phạm Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong quá trình chung sống bà Thư và ông Hòa xảy ra mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân thời gian dài. Theo quy định tại Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật Hôn nhân và Gia đình, Điều 2, chương I, Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 thì phải tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Bùi Văn H là vợ chồng
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung gồm Bùi Ngọc T, sinh năm 1996 và Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2006. Hiện nay con chung Bùi Ngọc T, sinh năm 1996 đã trưởng thành tự lạo động được. Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Bùi Văn H thỏa thuận giao con chung Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2006 cho bà Thư trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành tự lao động. Đây là sự tự nguyện của các đương sự nên cần ghi nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Đương sự thống nhất khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí theo quy định.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 244; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 2, chương I, Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Bùi Văn H là vợ chồng.
2. Về con chung:
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự: Giao con chung cháu Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2006 cho bà Thư trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành tự lao động được. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014376 ngày 12/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.
6. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Các đương sự; - Lưu HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ DƯƠNG QUỐC THÀNH |