- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị H - Nguyễn Hoàng N"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST Ngày 25 tháng 5 năm 2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Tài Em
Ông Liêu Tài Ngoánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H,
tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên
tòa: Ông Trần Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXX-ST ngày 11 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1977
Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/02/2023 và các lời khai trong quá trình tố
tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hoàng N quen biết trên tinh thần
tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục và chung sống như vợ chồng từ năm 1997, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, đến năm 2013 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân, bà và ông N đã ly thân nhau từ năm 2013 đến nay. Nay bà H nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với ông N.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 24/4/1998 và
Nguyễn Trường Đ, sinh ngày 05/9/2000, hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Hoàng N, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành
tống đạt các văn bản tố tụng cho ông N theo quy định nhưng ông N không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho ông N; ông N cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án; ông N đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án, Tòa án đến nhà của ông N để làm việc nhưng không gặp nên không có lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Trần Thị H và ông
Nguyễn Hoàng N là vợ chồng.
+ Về con chung: Các đương sự thống nhất cả 02 con chung đều đã trưởng
thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
+ Về tài sản chung: Các đương sự thống nhất không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
+ Về nợ chung: Các đương sự thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem
xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận:
Về tố tụng:
Bà H yêu cầu ly hôn với ông N, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và
gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông N cư trú tại ấp T, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện H thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà H có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, ông N đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông N tự nguyện chung sống với nhau
như vợ chồng vào năm 1997, là sự kiện có xảy ra trên thực tế. Quá trình sống chung như vợ chồng bà H và ông N không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý” và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Đồng thời tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Bà H xác định cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, hôn
nhân không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn với ông N. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho ông N nhưng ông N không quan tâm, quá trình giải quyết vụ án ông N không lần nào đến Tòa án và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình nhưng nay bà H cương quyết xin ly hôn với ông N mà ông N không có thiện chí hòa giải cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ sự mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ hôn nhân của ông bà không có khả năng hàn gắn lại được. Mặt khác, hôn nhân được duy trì bền vững lâu dài và hạnh phúc là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, bà H yêu cầu được ly hôn và xác định không thể tiếp tục chung sống với ông N thì việc chung sống không được tự nguyện cũng sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, cho bà H được ly hôn với ông N.
Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân
và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà H, tuyên bố không công nhận bà Trần Thị H và ông Nguyễn Hoàng N là vợ chồng.
[2] Về con chung: Bà H xác định bà và ông N có 02 con chung tên Nguyễn
Thị Nhi, sinh ngày 24/4/1998 và Nguyễn Trường Đang, sinh ngày 05/9/2000, hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa
án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị H
phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Từ các phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp
nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b, khoản
2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị H và ông Nguyễn
Hoàng N là vợ chồng.
2. Về con chung: Có 02 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu nên
không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét,
giải quyết.
3. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ
thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Bà H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011368 ngày 27/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H được chuyển thu án phí.
Án xử công khai, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bạc Liêu; -VKSND huyện H; -CCTHADS huyện H; -Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Tâm |