vanban.org

Bản án 40/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Dương Văn U.

Buộc ông Đinh Văn B và bà Nguyễn Thị Tám N cùng liên đới có trách nhiệm trả cho ông Dương Văn U số tiền là 52.000.000đồng (Năm mươi hai triệu đồng) tiền nợ hụi. Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày ông Dương Văn U có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà ông Đinh Văn B và bà Nguyễn Thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Dương Văn U - Đinh Văn B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Dương Văn U.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/DS-ST.
Ngày: 24-4-2023.
V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Tăng Thị Bạch Vân;

2. Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Không.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST - DS ngày 20 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2023/QĐST - DS ngày 07 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Dương Văn U, sinh ngày 01/01/1980.

Địa chỉ: ấp N, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông U là bà Trịnh Lệ T, sinh ngày 02/6/1964. Địa chỉ: Số 13, đường N, ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Đinh Văn B và bà Nguyễn Thị Tám N, sinh năm 1968.

Cùng địa chỉ: ấp N, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (ông B, bà N vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 18/11/2022 của nguyên đơn Dương Văn U cùng các lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án, trình bày:

Ông Đinh Văn B và bà Nguyễn Thị Tám N làm chủ hụi, ông U là hụi viên, có tham gia 02 dây hụi tháng cụ thể như sau:

Dây 1: Hụi tháng 1.000.000đồng, mở ngày 06/11/2019 âl, mãn ngày 06/11/2021 âl, có 26 phần, giấy hụi tên “U E”, ông U đóng hụi sống được 24 lần đến lần thứ 25 ông hốt được 48.000.000đồng, trừ đầu thảo 1.000.000đồng còn lại 47.000.000đồng ông B, bà N không giao tiền cho ông. Ông B, bà N còn nợ ông U số tiền là 47.000.000đồng.

Dây 2: Hụi tháng 1.000.000đồng, mở ngày 30/10/2020 âl, có 25 phần, ông U tham gia 02 phần giấy hụi tên “U E”, ông U đóng hụi sống được 10 lần (từ tháng 10/2020 âl đến tháng 7/2021 âl), đến lần thứ 11 (tháng 8/2021 âl) ông B, bà N không khui nữa ông B, bà N còn nợ ông U số tiền là 20.000.000đồng.

Tổng cộng 02 dây hụi ông B, bà N còn nợ ông U tổng số tiền là 67.000.000đồng. Ông B, bà N trả được 15.000.000đồng, còn nợ ông U tổng số tiền là 52.000.000đồng.

Vì vậy, ông Dương Văn U (U E) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà ông Đinh Văn B (B Chà) và bà Nguyễn Thị Tám N có trách nhiệm cùng liên đới trả lại cho ông tổng số tiền là 52.000.000đồng.

Tại phiên sơ thẩm bà Trịnh Lệ T là Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn U vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của ông U.

* Trong quá trình giải quyết vụ án các bị đơn ông Đinh Văn B (B Chà) và bà Nguyễn Thị Tám N không tham gia tố tụng, không phản đối, không phản tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, các bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, các bị đơn không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án đã cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho các bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn theo quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên cầu buộc các bị đơn phải cùng liên đới trả số tiền nợ hụi của 02 dây hụi trên với số tiền là 52.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Tại khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...”; “.... Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó ...” và “ Đương sự có nghĩa vụ đưa ra những chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.

Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho các bị đơn như: thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Trong đó, thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, nhưng phía bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không phản đối yêu cầu khởi kiện và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, đồng thời cũng không có yêu cầu phản tố. Như vậy các bị đơn đã tự tước bỏ quyền chứng minh và quyền cung cấp chứng cứ của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét các ý kiến và các yêu cầu của các bị đơn mà đã có đủ căn cứ để xác định chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là hoàn toàn hợp lệ, phù hợp với quy định tại Điều 93, Điều 94 và Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn đã có giao dịch về tài sản dưới hình thức góp hụi với mục đích tương trợ, có hưởng huê hồng và tiền lãi được thực hiện theo quy định của pháp luật là có thật. Tuy nhiên, hiện nay các dây hụi mà nguyên đơn tham gia do các bị đơn làm đầu thảo 01 dây đã mãn và 01 dây đã bị các bị đơn ngưng khui (theo nguyên đơn trình bày) mà không trả lại số tiền hụi sống cho nguyên đơn, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì theo chứng cứ nguyên đơn cung cấp (bản gốc) thì hiện nay các bị đơn còn nợ nguyên đơn là 52.000.000đồng. Do các bị đơn không phản đối nên yêu cầu của nguyên đơn đòi các bị đơn phải cùng liên đới trả số tiền hụi còn nợ của 02 dây hụi trên là 52.000.000đồng là có căn cứ cần được chấp nhận.

Tại phiên Tòa, nguyên đơn không yêu cầu tính thêm tiền lãi suất nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí DSST:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên các bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn không chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 95, khoản 2, Điều 227, khoản 3, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, Điều 468 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ: Về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ khoản 1, Điều 27 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ: Về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Dương Văn U.

Buộc ông Đinh Văn B và bà Nguyễn Thị Tám N cùng liên đới có trách nhiệm trả cho ông Dương Văn U số tiền là 52.000.000đồng (Năm mươi hai triệu đồng) tiền nợ hụi.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày ông Dương Văn U có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà ông Đinh Văn B và bà Nguyễn Thị Tám N phải cùng liên đới trả số tiền lãi suất cho ông Dương Văn U theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông Đinh Văn B và bà Nguyễn Thị Tám N phải cùng liên đới chịu 2.600.000đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Dương Văn U không chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Dương Văn U số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.300.000đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006235 ngày 06/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ