- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 227, 228, 235
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 40/2023/DS-ST Ngày:17/03/2023 “V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tâm.
2. Ông Nguyễn Văn Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ M, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An Giang tham
gia phiên toà: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ M xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 291/2022/TLST-DS ngày 17 tháng
10 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2, Quyết định
hoãn phiên tòa số 69/2023/QĐHPT ngày 08 tháng 02 năm 2022 và Quyết định
hoãn phiên tòa số 107/2023/QĐHPT ngày 28 tháng 02 năm 2022 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Băng T, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp NH, xã
NM, huyện Chợ M, tỉnh An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1983; hộ khẩu thường trú ấp
Long Thị A, phường Long Hưng, thị xã TC, tỉnh An Giang; địa chỉ hiện tại: số
nhà 43, tổ 02, ấp NA, xã NM, huyện Chợ M, tỉnh An Giang.
Bà Nguyễn Thị Mỹ L ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Th, sinh năm 1981;
địa chỉ: Khóm 3, phường Châu Phú A, thành phố CĐ, tỉnh An Giang. Theo văn
bản ủy quyền ngày 15.03.2022; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Hoàng Tr, sinh năm
1983; địa chỉ: số nhà 43, tổ 02, ấp NA, xã NM, huyện Chợ M, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn bà Huỳnh Thị Băng T trình bày, do chỗ quen biết với vợ chồng bà L, ông Tr, bà có tham gia hụi do bà L làm chủ, số tiền bà L hưởng hoa hồng từ các hụi viên khác hốt. Đến kỳ mở hụi, hụi viên nào mở giá hụi cao nhất thì được hốt hụi. Chủ hụi có trách nhiệm thu tiền các hụi viên khác giao cho người hốt được và hưởng hoa hồng. bà tham gia 02 dây hụi cụ thể như sau:
Dây hụi thứ nhất: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 14/11/2020 (al) hụi có
22 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên “T” nằm số thứ tự số 20). Hụi khui đến lần thứ 20 thì tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được bao nhiêu thì tôi không nhớ, hụi hiện nay chưa mãn.
Dây hụi thứ hai: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 15/08/2021 (al) hụi có
20 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên “T” nằm số thứ tự số 11). Hụi khui đến lần thứ 11 thì tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này tôi chầu được bao nhiêu thì tôi không nhớ.
Do bà L tự ý bể hụi nên vào ngày 20/6/2022 bà L có kêu bà lại nhà bà
làm giấy nhận hụi là bà L có thiếu tiền hụi bà là 75.000.000 đồng, nhưng sau đó vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà số tiền trên.
Nay bà yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Đặng Hoàng Tr có nghĩa vụ
liên đới trả cho tôi số tiền hụi 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) không yêu cầu tính lãi suất.
Tại phiên tòa ngày 17.02.2023 người đại diện ủy quyền cho bà Nguyễn
Thị Mỹ L là ông Nguyễn Thành Th trình bày: Đối với số nợ bà T vừa trình bày thì bà L cũng thống nhất hiện nay còn nợ bà T số tiền hụi 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) do hoàn cảnh gia đình bà L hiện nay khó khăn, cho bà xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi dứt số tiền 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).
Không đồng ý đối với yêu cầu ông Đặng Hoàng Tr cùng có nghĩa vụ liên
đới với bà Nguyễn Thị Mỹ L trả số tiền 75.000.000 đồng cho bà T.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện là: Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình (bản sao); danh sách hụi viên (bản photo).
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L ủy quyền cho ông Nguyễn Phùng Thịnh đã được
triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên
Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Băng T đã cung cấp các tài liệu chứng cứ
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Th vẫn
thừa nhận số nợ, nhưng xin trả dần.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị
đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không
lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy
định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do quen biết, nên bà Huỳnh Thị Băng T có tham gia 02 dây hụi do bà
Nguyễn Thị Mỹ L làm chủ, 2.000.000 đồng/tháng, có 20 phần, bà T tham gia 01
phần; dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, bà T tham gia 01 phần, đã đóng hụi được
với tổng số tiền vốn 75.000.000 đồng. Đến ngày 19/6/2022 (âm lịch), bà L tuyên
bố vỡ hụi. Nay, yêu cầu bà L và ông Đặng Hoàng Tr (chồng bà L) liên đới trả
75.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại phiên tòa, phía bà L thống nhất số tiền nợ hụi, tuy nhiên không đồng ý
đối với yêu cầu ông Đặng Hoàng Tr cùng liên đới với bà Nguyễn Thị Mỹ L trả
số tiền 75.000.000 đồng. Hiện tại hoàn cảnh bà L khó khăn, xin trả dần mỗi
tháng 1.000.000 đồng.
Xét thấy, căn cứ bà T khởi kiện là các sổ hụi ngày 15/8/2021, 04/11/2020
(âm lịch), hụi 2.000.000 - 3.000.000 đồng/tháng và giấy xác nhận nợ ngày
20/6/2022, bà L xác nhận có nợ bà T 75.000.000 đồng nên có cơ sở xác định
việc giao dịch hụi giữa bà T và bà L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, thỏa
thuận do bà L tự ý ngưng hụi, không được sự đồng ý của các hụi viên, vi phạm
nghĩa vụ của chủ hụi nên bà T khởi kiện yêu cầu bà L trả nợ 75.000.000 đồng là
có căn cứ phù hợp Điều 471 Bộ luật Dân sự.
Đối với ông Tr, không trực tiếp giao dịch hụi với bà T, giữa ông Tr và bà
L xác lập quan hệ hôn nhân nhưng không đăng ký kết hôn nên không có cơ sở
xem xét buộc ông Tr liên đới cùng bà L trả số nợ trên.
Về tính lãi suất, do bà T không yêu cầu nên không đề cập đến.
Căn cứ các Điều 471 Bộ luật Dân sự, Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia
đình, đề xuất:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Băng T.
- Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả bà Huỳnh Thị Băng T tiền nợ
hụi 75.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Băng T yêu cầu
ông Đặng Hoàng Tr liên đới cùng bà Nguyễn Thị Mỹ L trả số nợ hụi 75.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Thị Băng T khởi kiện yêu
cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả số tiền nợ hụi cho bà là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Bà L có nơi cư trú tại ấp Nhơn An, xã NM, huyện Chợ M, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ M thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Hoàng Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt ông Tr theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Qua lời khai và lời trình bày của ông bà Huỳnh Thị Băng T tại các biên
bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ cung cấp và qua quá trình bà giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định giữa bà T với bà L có ký kết hợp đồng góp hụi giữa hai bên phù hợp với quy định của pháp luật. Nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, không trái đạo đức xã hội, do bà L tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục nhưng bà L không trả số tiền hụi khi bà T có yêu cầu là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trong số các tài liệu, chứng cứ do bà T cung cấp có danh sách dây hịu thể
hiện dây hụi được bà L ghi tên T nằm các số thứ tự số 11,20. Khi bà L bể hụi thì có kêu bà T lại làm giấy nợ là có nợ bà T số T hụi là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).
Như vậy, lời khai của bà T phù hợp với danh sách hụi và giấy xác nhận nợ
hụi giữ bà L với bà T. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:
Bà T yêu cầu bà L, ông Tr cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi
75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).
Xem xét yêu cầu liên đới thấy rằng, mặc dù, ông Tr có cùng bà Limh xác
lập hợp đồng về hụi với bà T hay không, nhưng hiện nay bà L với ông Tr không
có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân ông bà không hợp pháp, vì vậy bà T yêu cầu
bà L, ông Tr cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 75.000.000 đồng
(bảy mươi lăm triệu đồng) là không có cơ sở.
Từ những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà T tại phiên
Tòa vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T là phù hợp
với quy định pháp luật tại các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 27,
37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án bà T không yêu cầu tính
lãi suất. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Trần Thị Mỹ L phải chịu án phí theo quy
định pháp luật.
Bà Huỳnh Thị Băng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 282, 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 14 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 227, 228, 235
và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Băng T.
Buộc bà Trần Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị Băng T số tiền
hụi 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Băng T yêu cầu
ông Đặng Hoàng Tr có nghĩa vụ liên đới trả với bà Nguyễn Thị Mỹ L cho bà số
tiền hụi 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Mỹ L phải chịu 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi
ngàn đồng).
Bà Huỳnh Thị Băng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả
cho bà Huỳnh Thị Băng T số tiền tạm ứng án phí 1.875.000.000 đồng (một triệu tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) mà bà Huỳnh Thị Băng T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012641 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ M cấp ngày 17 tháng 10 năm 2022
3. Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ M; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ M; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |