vanban.org

Bản án 40/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 17/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần T. Buộc chị A trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T số tiền:

Nợ gốc là 33.264.846 đồng (Ba mươi ba triệu hai trăm sáu mươi bốn nghìn tám trăm bốn mươi sáu đồng); Tiền lãi quá hạn là 7.913.652 đồng (Bảy triệu chín trăm mười ba ngìn sáu trăm năm mươi hai đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp giữa Ngân hàng với chị A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần T. Buộc chị A trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T số tiền:
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/DS-ST
Ngày: 17/5/2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc Vân

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 373/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST - DS ngày 24 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần T

Địa chỉ: 266-268 N, phường X, quận Y, TP. Hồ Chí Minh

Đại diện theo pháp luật: Bà D – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông G – Giám đốc chi nhánh Tiền Giang.

Đại diện theo ủy quyền lại: Ông S – Chuyên viên quản lý nợ chi nhánh Tiền Giang.

Bị đơn: Chị A, sinh năm 1990

Địa chỉ: 207 ấp H, xã T, thành phố T, Tiền Giang

Ông Sơn, chị A vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Ngân hàng TMCP T và quá trình giải quyết vụ án ông S là người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/3/2021, chị A có ký kết với Ngân hàng TMCP T hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng. Mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 31,2%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi trong hạn.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết. Ngày 15/11/2022, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 21/11/2022, chị A còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 33.524.310 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu giải quyết: Buộc chị A phải trả cho Ngân hàng TMCP T số tiền nợ gốc là 33.264.846 đồng, tiền lãi quá hạn: 259.464 đồng và buộc chị A phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc thực tế cho đến khi thi hành án xong.

- Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập chị A đến Toà để tham gia phiên họp, phiên hoà giải và phiên tòa nhưng chị A đều vắng mặt không có lý do cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông S có đơn xin xét xử vắng mặt, chị A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ngân hàng yêu cầu chị A trả số tiền nợ vay nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, thành phố T, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị A trả tiền nợ đã vay với gốc và tiền lãi. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 03/4/2021 do Ngân hàng cung cấp có chữ ký của chị A. Có đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng và chị A đã xác lập hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng.

Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị A tuy nhiên chị A không đến tham dự phiên tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, chị A phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó Hội đồng xét xử xác định chị A còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc tính đến ngày 17/5/2023 là 33.264.846 đồng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Xét thấy chị A đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc chị A trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 33.264.846 đồng.

Xét yêu cầu trả tiền lãi: Ngân hàng yêu cầu chị A trả tiền lãi quá hạn. Ngân hàng yêu cầu chị A trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày 18/5/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ thì chị A vẫn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 03/4/2021 trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần T. Buộc chị A trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T số tiền:

- Nợ gốc là 33.264.846 đồng (Ba mươi ba triệu hai trăm sáu mươi bốn nghìn tám trăm bốn mươi sáu đồng);

- Tiền lãi quá hạn là 7.913.652 đồng (Bảy triệu chín trăm mười ba ngìn sáu trăm năm mươi hai đồng).

2. Kể từ ngày 18/5/2023 cho đến khi thi hành án xong, chị A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án (nợ gốc) theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 03/4/2021.

3. Về án phí:

Chị A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.059.000 đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 840.000 đồng theo biên lai thu tiền số 23109 ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ