- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán giữa bà P với ông H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P. Buộc bị đơn ông Phan Văn H trả cho nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P tổng số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ 388.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/DS-ST Ngày: 31-8-2023 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
2. Ông Dương Văn Tính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Y Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 76/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2023, về tranh chấp hợp đồng dân sự về mua bán tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2023/QĐXX-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bạch Thủy Kiều P, sinh ngày 06 tháng 9 năm 1962; Nơi cư trú: Ấp PTA, xã PTA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt
2. Bị đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Ấp PTB, xã PTA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 4 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P trình bày: Nguyên trước đây, bà có bán thức ăn chăn nuôi thủy sản cho ông Phan Văn H, ông H cũng có trả tiền đầy đủ. Đến ngày 22 tháng 01 năm 2019 thì ông H còn nợ lại là 10.000.000 đồng. Sau đó, ông H tiếp tục mua thức ăn chăn nuôi thủy sản của bà thêm 08 lần nữa từ ngày 08 tháng 6 năm 2019 đến ngày 04 tháng 11 năm 2019 với số tiền là 378.400.000 đồng và cộng thêm nợ cũ 10.000.000 đồng, tổng cộng ông H còn nợ bà số tiền là 388.400.000 đồng. Bà đã nhiều lần gọi điện và liên lạc với ông H để yêu cầu trả tiền thiếu nhưng ông H hứa mà không trả phần nào cho bà. Sau đó, bà có thưa ông H đến Ủy ban nhân dân xã PTA, thì tại buổi hòa giải ông H vẫn hứa trả tiền nhưng ông lại tiếp tục không trả. Nay bà yêu cầu ông Phan Văn H trả số tiền mua thức ăn chăn nuôi thủy sản còn nợ là 388.400.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
* Đối với ông Phan Văn H, Toà án đã triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng ông từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử, cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P; buộc bị đơn ông Phan Văn H trả cho nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P tổng số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ 388.400.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về mua bán tài sản được quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Phan Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Phan Văn H.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P yêu cầu ông Phan Văn H trả trả tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy bị đơn ông H thừa nhận sau quá trình mua bán thức ăn chăn nuôi với bà P thì ông còn nợ lại số tiền nợ số tiền 388.400.000 đồng, được hai bên xác nhận theo giấy mua bán thức ăn chăn nuôi gồm:
- Vào ngày 22 tháng 01 năm 2019, ông H còn nợ cũ là 10.000.000 đồng.
- Vào ngày 08 tháng 6 năm 2019, ông H mua thức ăn chăn nuôi chưa trả là 12.200.000 đồng.
- Vào ngày 08 tháng 7 năm 2019, ông H mua thức ăn chăn nuôi chưa trả là 73.200.000 đồng.
- Vào ngày 01 tháng 8 năm 2019, ông H mua thức ăn chăn nuôi chưa trả là 73.200.000 đồng.
- Vào ngày 01 tháng 9 năm 2019, ông H mua thức ăn chăn nuôi chưa trả là 85.400.000 đồng.
- Vào ngày 25 tháng 9 năm 2019, ông H mua thức ăn chăn nuôi chưa trả là 61.200.000 đồng.
- Vào ngày 11 tháng 10 năm 2019, ông H mua thức ăn chăn nuôi chưa trả là 24.400.000 đồng.
- Vào ngày 13 tháng 10 năm 2019, ông H mua thức ăn chăn nuôi chưa trả là 36.600.000 đồng.
- Vào ngày 04 tháng 11 năm 2019, ông H mua thức ăn chăn nuôi chưa trả là 12.200.000 đồng.
Tổng cộng, còn nợ là 388.400.000 đồng. Ngoài ra, căn cứ vào biên bản làm việc ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã PTA, huyện HN và Biên bản hòa giải ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Ủy ban nhân dân xã PTA, huyện HN, ông Phan Văn H thừa nhận có mua thiếu thức ăn thủy sản của bà Bạch Thủy Kiều P số tiền là 388.400.000 đồng nhưng vẫn chưa trả tiền. Từ những căn cứ trên có thể nhận thấy rằng, việc ông H thiếu tiền mua thức ăn của bà P với số tiền là 388.400.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Qua ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P, buộc bị đơn ông Phan Văn H trả cho nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P tổng số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ 388.400.000 đồng. Đối với lãi suất, các đương sự không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 144 và 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quy định: “Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận”; căn cứ vào điểm b khoản 1.3 Điều 1 Mục II của Danh mục án phí kèm theo Nghị quyết, bị đơn ông Phan Văn H chịu toàn bộ án phí của số tiền phải thực hiện nghĩa vụ là 388.400.000 đồng x 5% là 19.420.000 đồng; nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P do là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí và án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 91, 92, 144, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm b khoản 1.3 Điều 1 Mục II của Danh mục án phí kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P. Buộc bị đơn ông Phan Văn H trả cho nguyên đơn bà Bạch Thủy Kiều P tổng số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ 388.400.000 đồng (ba trăm tám mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng).
2. Về án phí:
2.1. Ông Phan Văn H chịu 19.420.000 đồng (mười chín triệu bốn trăm hai chục nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Bà Bạch Thủy Kiều P được miễn tiền án phí sơ thẩm.
3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Hồng Ngự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |