vanban.org

Bản án 40/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vừ A S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Vừ A S 01 năm 04 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ( 01/10/2022). Vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 ; Điều 106/BLTTHS năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ: 0,48 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định. (Vật chứng đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ A S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vừ A S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số:40/2022/HSST
Ngày 29/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Chương

2. Bà Bạc Thị Kiên

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Châm - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đ

- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà:Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2022/HSST ngày 16/11/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2022/QĐXX-HS ngày 18/11/2022 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Vừ A S.Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh năm 1993. Tại Sơn La. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Vừ Gà N sinh năm 1960; Con bà: Phá Thị V, sinh năm 1960; Vợ: Sềnh Thị N sinh năm 1990, bị cáo có 4 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không: Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa xét xử. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/10/2022. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 30/9/2022, Vừ A S đi bộ một mình từ bản H, xã N, huyện Đ đến khu vực bản N 2, xã M, huyện Đ với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, S gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 30 tuổi ( không biết tên, địa chỉ) 09 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, miệng gói hàn với giá 150.000đ. Mua bán xong, S cầm gói Methamphetamine ra khu vực ruộng bản N 2, xã M lấy 02 viên Methamphetamine ra sử dụng hết bằng hình thức hít. Sử dụng xong Sềnh gói 07 viên Methamphetamine còn lại bằng nilon màu trắng, miệng gói buộc thắt nút và cầm ở tay trái rồi đi bộ về nhà. Hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi S đang đi trên đường thuộc bản N 2, xã M, huyện Đ thì bị tổ công tác 1266 Công an tỉnh Đ phối hợp với công an xã M, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang S thả gói Methamphetamine trên tay trái xuống dưới chân cách vị trí Sềnh đang đứng khoảng 10cm. Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người, thu giữ gói ma túy.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 01/10/2022 đã xác định: 07 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 0,68 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1310/KL-KTHS ngày 07/10/2022 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Vừ A S gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Có hoàn lại đối tượng sau giám định 0,48gam.

Tại bản cáo trạng số 247/CT-VKSĐB ngày 15/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Vừ A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS. Xử phạt bị cáo Vừ A S từ 16 tháng đến 19 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí HSST cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 30/9/2022, tại khu vực bản N 2, xã M huyện Đ, tỉnh Đ .Vừ A S đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,68 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân không có mục đích khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp.Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng 0,68 gam Methamphetamine. Kết luận giám định là chất ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

C¸o tr¹ng cña VKSND huyện Đ ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.

. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma túy lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ trái phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho thấy:

Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện T, tỉnh S được gia đình nuôi ăn học đến lớp 9. Năm 2011 kết hôn với Sềnh Thị Nếnh chuyển lên sinh sống tại bản H, xã N, huyện Đ. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2020, chưa có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo và có thời gian cai nghiện ma túy. Xét đề nghị của VKS là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.

Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi, do không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.

. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

. Vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 0,48 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

.Về án phí: Bị cáo là hộ nghèo thuộc diện miễn án phí căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Vừ A S được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS

1. Tuyên bố: Bị cáo Vừ A S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Vừ A S 01 năm 04 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ( 01/10/2022).

3. Vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 ; Điều 106/BLTTHS năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ: 0,48 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định. (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên vào ngày 15/11/2022).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Vừ A S được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/11/2022).

Cỡ chữ