vanban.org

Bản án 40/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Đàm Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đàm Quốc T 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12/9/2022. 2- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Quốc T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Đàm Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HS-ST
Ngày: 16/12/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Quang Khuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Nghỉ, ông Vương Quốc Quỹ.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hoàng Anh -Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuê - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2022/TLST -HS ngày 16 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HS ngày 05/12/2022 đối với:

Bị cáo: Đàm Quốc T, sinh năm 1984 tại Hải Dương; Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã Đ, huyện V, thành phố N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Văn T (đã chết) và bà Chu Thị H; Gia đình có 03 anh em; bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 9 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Bị hại: Anh Ngô Văn H - sinh năm 1989

Nơi cư trú: P 14, khu đô thị Ph, thị trấn M, huyện M, tỉnh D, xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Trần Văn T, anh Phạm Văn T, anh Trần KHắc Ph, ông Lê Văn Nh, bà Nguyễn Thị Nh, chị Đinh Thị Thu H, anh Trần Văn T, anh Phan Trung V, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Anh Trần Văn T, trú tại xóm An Cư, xã Vân Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình nhận hợp đồng thi công công trình trần thạch cao với gia đình ông Lê Văn Nh, trú tại thôn Tiêu Lâm, xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện. Ngày 15/8/2022, anh Trần Văn T đã đăng lên mạng xã hội Facebook bằng nick “Trần Hải Minh” để tìm nguồn thạch cao với nội dung “tìm cửa hàng thạch cao ở Hải Dương (Thanh Miện). Đàm Quốc T làm nghề sơn bả ở Hà Nội, không có cửa hàng bán thạch cao, thấy thông tin anh Trần Văn T đang tìm nguồn thạch cao đã nảy sinh ý định lừa đảo, tìm một cửa hàng ở Thanh Miện bán thạch cao cho anh T để chiếm đoạt tiền. Ngày 16/8/2022, Đàm Quốc T đã sử dụng nick Facebook có tên “Mo Coi Tinh Quoctoan” chủ động nhắn tin cho anh T giới thiệu là có cửa hàng thạch cao mới mở, có thể cung cấp vật tư thạch cao cho anh T và miễn phí vận chuyển. Anh T tin là thật nên đã thỏa thuận và thống nhất với Đàm Quốc T về số lượng, giá cả và địa điểm nhận thạch cao. Đàm Quốc T đã chủ động sử dụng Zalo có tên “Lê Cường” được đăng ký theo số điện thoại 0568.407.963 (số điện thoại này hiện tại không sử dụng, không lắp vào điện thoại di động mà chỉ sử dụng zalo) để kết bạn zalo với anh T. Sau khi thỏa thuận xong với anh T, Đàm Quốc T lên mạng xã hội tìm thấy cửa hàng thạch cao của anh Ngô Văn H, sinh năm 1989, hiện ở P14, phố Trần Văn Chứ, đô thị Hà Phương, khu Lê Bình, thị trấn Thanh Miện có số điện thoại 0394.125.125. Đàm Quốc T sử dụng số điện thoại sim rác không đăng ký chính chủ của mình là 0972.246.120 gọi điện thoại cho anh H nói dối tên là Tuấn, ở thôn Tiêu Lâm, xã Ngũ Hùng đang cần mua thạch cao làm trần nhà, anh H tin là thật, cả hai người lưu số điện thoại và kết bạn Zalo để nhắn tin với nhau. Đến ngày 17/8/2022, Đàm Quốc T bảo anh H chở thạch cao đến địa điểm theo tọa độ mà trước đó anh T đã gửi cho mình. Đàm Quốc T nói với anh H sẽ thanh toán sau vì còn tiếp tục lấy thêm thạch cao, anh H tin là thật nên đã đồng ý chuyển thạch cao trị giá 12.572.000 đồng giao cho anh T và viết hóa đơn chụp gửi qua Zalo cho Đàm Quốc T biết. Sau đó Đàm Quốc T gọi điện cho anh T, yêu cầu anh T sau khi nhận được thạch cao phải thanh toán tiền ngay cho mình qua số tài khoản. Anh T đồng ý và xin số tài khoản để chuyển tiền. Mặc dù Đàm Quốc T có số tài khoản ngân hàng nhưng để tránh bị phát hiện, Đàm Quốc T đã đến cửa hàng của bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1966, trú tại 20/43 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội để nhờ bà Nh cho dùng số tài khoản để chuyển nhờ tiền vào đó, bà Nh nhất trí (bà Nh làm dịch vụ chuyển tiền, không quen biết Đàm Quốc T) và cung cấp cho Đàm Quốc T số tài khoản 19034779191012 của mình tại Ngân hàng Techcombank. Đàm Quốc T lấy số tài khoản của bà Nh và nhắn tin cho anh T (nói dối là số tài khoản của kế toán cửa hàng) yêu cầu chuyển tiền. Anh T sử dụng số tài khoản 19031843282011 của mình tại Ngân hàng Techcombank chuyển 12.000.000 đồng cho Đàm Quốc T theo số tài khoản Đàm Quốc T cung cấp, sau đó chụp lại nội dung giao dịch chuyển tiền gửi qua zalo cho Đàm Quốc T. Đàm Quốc T đã lấy tiền mặt từ bà Nh.

Ngày 20/8/2022, anh T gọi điện thoại cho Đàm Quốc T mua thêm thạch cao, Đàm Quốc T tiếp tục yêu cầu anh H chở thêm thạch cao trị giá 1.484.000 đồng đến địa chỉ cũ. Sau khi nhận được thạch cao, anh T đã nhờ công nhân trong đội thợ là anh Phạm Văn T, sinh năm 2000, trú tại xóm 11, xã Lưu Phương, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, chuyển hộ số tiền 1.300.000 đồng cho Đàm Quốc T. Anh Tính dùng số tài khoản 106868645067 của mình tại Ngân hàng Vietinbank để chuyển khoản vào tài khoản của bà Nh (số tài khoản của bà Nh do Đàm Quốc T đã cung cấp trước đó cho anh T). Sau khi chuyển hàng xong, anh H viết hóa đơn tổng 2 lần giao hàng hết số tiền 14.056.000 đồng và chụp hóa đơn gửi cho Đàm Quốc T và yêu cầu thanh toán tiền nhưng Đàm Quốc T nói đang ở Hà Nội, vài hôm nữa về sẽ thanh toán tiền.

Trưa ngày 26/8/2022, Đàm Quốc T gọi điện cho anh H nói đang mua bàn ghế trên thành phố Hải Dương, còn thiếu tiền nên nhờ anh H chuyển cho vay số tiền 4.700.000 đồng để trả tiền bàn ghế và hẹn anh H 14 giờ chiều cùng ngày xuống nhà Đàm Quốc T (tức nhà ông Nhân ở Tiêu Lâm, Ngũ Hùng) để thanh toán tiền. Anh H tin là thật nên đã đồng ý và hỏi số tài khoản của Đàm Quốc T. Sau đó Đàm Quốc T đã nhờ bạn là Trần Văn Phái, sinh năm 1996, trú tại xã Ngọc Thiện, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ra cửa hàng dịch vụ chuyển tiền xin số tài khoản gửi cho Đàm Quốc T để Đàm Quốc T bảo đứa em chuyển tiền đến và nhờ Phái nhận hộ. Anh Phái đã ra cửa hàng của chị Đinh Thị Thu H, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố Hoàng Chín, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xin nhờ số tài khoản 0560129668666 tại Ngân hàng MB của chị H để gửi cho Đàm Quốc T, Đàm Quốc T lấy số tài khoản này nhắn tin cho anh H. Anh H đã dùng tài khoản của mình số 2305222688888 tại Ngân hàng Agribank chuyển vào tài khoản trên cho Đàm Quốc T số tiền 4.700.000 đồng, sau đó chụp nội dung giao dịch chuyển tiền gửi qua zalo cho Đàm Quốc T. Sau khi anh Phái lấy được tiền đã trừ 700.000 đồng tiền Đàm Quốc T nợ mình, còn lại chuyển trả 4.000.000 đồng vào tài khoản của Đàm Quốc T số 101002183904 tại Ngân hàng Vietinbank. Sau khi nhận được tiền từ anh H, Đàm Quốc T đã tắt sim điện thoại, hủy kết bạn zalo với anh H và chặn tin nhắn, cuộc gọi từ người lạ. Anh H không liên lạc được với Đàm Quốc T nên đến công trình đã giao thạch cao thì chủ nhà là ông Lê Văn Nh và anh T cho biết gia đình và đội thợ không có ai tên là Tuấn, anh T mua vật liệu của người tên Lê Cường và đã thanh toán xong. Lúc này anh H biết mình bị lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền là 18.756.000 đồng, sau đó anh H làm đơn trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện tiến hành xác minh điều tra làm rõ hành vi phạm tội của Đàm Quốc T.

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 15/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện đã truy tố: Bị cáo Đàm Quốc T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, công nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện là đúng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện thực hành quyền công tố, trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 điều 174, điểm b,i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Đàm Quốc T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12 tháng 9 năm 2022.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đàm Quốc T đã tự nguyện bồi thường và tác động gia đình bồi thường cho bị hại anh Ngô Văn H toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 18.756.000 đồng, anh H không có yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 02 sim điện thoại.

Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1k, màu đen, đã cũ.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Luật phí và lệ phí. Buộc bị cáo Đàm Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Thanh Miện, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng. Vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, từ những chứng cứ nêu trên. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Đàm Quốc T do không có tiền chi tiêu nên từ ngày 17/8/2022 đến ngày 20/8/2022 và ngày 26/8/2022 Đàm Quốc T đã gian dối đưa ra thông tin sai sự thật, chiếm đoạt của anh Ngô Văn H, sinh năm 1989, ở P14, phố Trần Văn Trứ, khu đô thị Hà Phương, Khu Lê Bình, thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiểm đoạt là 18.756.000 đồng.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền chi tiêu, phục vụ bản thân, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện, tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 18.756.000 đồng. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo ra trước tòa để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thân nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi đã phạm. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo cùng gia đình đã khắc phục hậu quả, đã bồi thường toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng với bị cáo mức hình phạt tù tương xứng và cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường và tác động gia đình bồi thường cho bị hại anh Ngô Văn H toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt 18.756.000 đồng, anh H không có yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1k, màu đen, đã cũ cùng 02 thẻ sim của Đàm Quốc T. Đây là công cụ phương tiện bị cáo trực tiếp sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần tịch thu điện thoại phát mại sung ngân sách nhà nước. Đối với sim điện thoại tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với bà Nguyễn Thị Nh, chị Đinh Thị Thu H, anh Trần KHắc Ph là những người chuyển tiền và nhận tiền giúp Đàm Quốc T nhưng không biết số tiền này do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với bà Nh, chị H, anh Phái là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo Đàm Quốc T bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

1- Tuyên bố: Bị cáo Đàm Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đàm Quốc T 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12/9/2022.

2- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 02 sim điện thoại.

Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1k, màu đen, đã cũ.

(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện. Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện).

3- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đàm Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ